Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 6 Phục sinh năm A (14/5/2023) - Thánh Thần - Đấng Bào Chữa
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Nhật VI Phục Sinh, nói với chúng ta về Chúa Thánh Thần, Đấng được Chúa Giêsu gọi là Đấng An Ủi (x. Ga 14,15-17). Paraclito là một từ gốc Hy Lạp, vừa có nghĩa là người an ủi và có nghĩa là người bào chữa. Nghĩa là, Chúa Thánh Thần không bỏ mặc chúng ta một mình, Người ở gần chúng ta, giống như một luật sư đứng bên cạnh giúp đỡ bị cáo. Và điều này cũng nói đến cách Người bảo vệ chúng ta khi đối diện với những kẻ cáo buộc. Hãy nhớ rằng kẻ cáo buộc lớn nhất là ma quỷ, kẻ làm cho anh phạm tội, kẻ muốn tội lỗi và điều xấu xa. Chúng ta hãy suy nghĩ về hai khía cạnh này: sự gần gũi của Người với chúng ta và sự giúp đỡ của Người chống lại những kẻ buộc tội chúng ta.
Sự gần gũi của Người: Chúa Giêsu nói Chúa Thánh Thần “ở giữa anh em và ở trong anh em” (x. câu 17). Người không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chúa Thánh Thần muốn ở với chúng ta: Người không phải là khách qua đường đến thăm xã giao chúng ta. Không. Người là một người bạn tâm giao, một sự hiện diện ổn định, Người là Thần Khí và mong muốn ngự trị trong thần khí của chúng ta. Người kiên nhẫn và ở bên chúng ta ngay cả khi chúng ta sa ngã. Người ở lại vì Người thực sự yêu chúng ta: Người không giả vờ yêu chúng ta và rồi bỏ mặc chúng ta trong khó khăn.
Thật vậy, nếu chúng ta gặp thử thách, thì Chúa Thánh Thần an ủi chúng ta, ban cho chúng ta ơn tha thứ và sức mạnh của Thiên Chúa. Và khi Người cho chúng ta thấy những lỗi lầm và sửa chữa chúng ta, Người làm điều đó một cách nhẹ nhàng: tiếng nói của Người ngỏ với trái tim luôn có dấu ấn của sự dịu dàng và hơi ấm của tình yêu. Dĩ nhiên, Thần Khí Bào Chữa cũng đòi hỏi, bởi vì Người là một người bạn đích thực, trung thành, không giấu giếm điều gì, Người gợi ý cho chúng ta những gì cần thay đổi và làm thế nào để phát triển. Nhưng khi Người sửa dạy chúng ta, Người không bao giờ làm cho chúng ta bẽ mặt và không bao giờ khiến chúng ta mất lòng tin; ngược lại, Người cho chúng ta sự chắc chắn rằng chúng ta luôn có thể làm được điều đó với Chúa. Đây là sự gần gũi của Người, là một sự bảo đảm thật đẹp.
Khía cạnh thứ hai, Thần Khí Bào Chữa là người biện hộ cho chúng ta: Đấng Bào Chữa bảo vệ chúng ta. Người bảo vệ chúng ta trước những kẻ buộc tội chúng ta: trước chính chúng ta, khi chúng ta không yêu mình và không tha thứ cho mình, thậm chí đến mức chúng ta tự nói mình là những kẻ thất bại và chẳng ích lợi gì; trước thế giới, kẻ loại bỏ những người không tương ứng với các kế hoạch và khuôn mẫu của nó; trước ma quỷ, là “kẻ tố cáo” và kẻ gây chia rẽ (xem Kh 12:10) và làm mọi cách để khiến chúng ta cảm thấy bất tài và bất hạnh.
Đối diện với tất cả những ý nghĩ buộc tội này, Chúa Thánh Thần gợi ý cách đáp lại. Bằng cách nào? Chúa Giêsu nói, Đấng An Ủi là Đấng làm cho chúng ta nhớ lại tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói với chúng ta (x. Ga 14:26). Do đó, Người nhắc chúng ta về những lời của Tin Mừng, và cho phép chúng ta đáp trả những lời buộc tội của ác thần không phải bằng lời của chúng ta, nhưng bằng chính lời của Chúa. Trên hết, Người nhắc chúng ta rằng Chúa Giêsu luôn nói về Cha trên trời, Người cho chúng ta biết Người và bày tỏ tình yêu của Người cho chúng ta, những người con của Người. Nếu chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần, chúng ta học cách chào đón và ghi nhớ thực tại quan trọng nhất của cuộc sống, thực tại bảo vệ chúng ta khỏi những cáo buộc của sự dữ: chúng ta là con cái yêu dấu của Thiên Chúa. Đây là một thực tế quan trọng hơn và Chúa Thánh Thần nhắc nhớ chúng ta về điều này.
Anh chị em thân mến, hôm nay chúng ta hãy tự hỏi: chúng ta có khẩn cầu Chúa Thánh Thần không, chúng ta có thường xuyên cầu xin Người không? Chúng ta đừng quên Đấng ở gần chúng ta, thực sự ở trong chúng ta! Và rồi, chúng ta có lắng nghe tiếng nói của Người không, cả khi Người khuyến khích lẫn sửa dạy chúng ta? Chúng ta có đáp lại bằng những lời của Chúa Giêsu trước những lời cáo buộc của thần dữ, trước những “toà án” của cuộc sống không? Chúng ta có nhớ mình là con cái được yêu của Thiên Chúa không? Xin Mẹ Maria làm cho chúng ta trở nên ngoan ngoãn với tiếng nói của Chúa Thánh Thần và nhạy bén với sự hiện diện của Người.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 6 Phục sinh năm A (17/5/2020) - Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay (x. Ga 14,15-21) trình bày hai sứ điệp: tuân giữ các điều răn và lời hứa ban Chúa Thánh Thần.
Chúa Giê-su nối kết tình yêu Người với việc tuân giữ các điều răn, và Người đã khẳng định điều này trong diễn từ từ biệt: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (c. 15); “ai đón nhận và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (v.21). Chúa Giê-su dạy chúng ta kính mến Người, nhưng Người cũng giải thích: tình yêu này không chỉ là khao khát Người, hoặc chỉ là một tình cảm, nhưng nó đòi phải sẵn lòng bước theo con đường của Người, đó là ý muốn của Chúa Cha. Và điều này được tóm tắt trong điều răn yêu thương nhau, mà chính Chúa Giêsu đã ban: " Anh em hãy yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13,34). Chúa không nói: "Hãy yêu Thầy, như Thầy đã yêu thương anh em", nhưng "anh em hãy yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Người yêu thương chúng ta mà không đòi chúng ta yêu lại và muốn tình yêu nhưng không này của Người trở thành cách sống cụ thể giữa chúng ta: đây là ý muốn của Người.
Để giúp các môn đệ đi trên con đường này, Chúa Giêsu hứa sẽ xin Chúa Cha sai một “Đấng Bảo trợ khác" (c.16), nghĩa là Đấng an ủi, Đấng bảo vệ, Đấng sẽ thay thế Người và sẽ ban cho họ trí thông minh để lắng nghe và lòng can đảm để tuân giữ lời Người. Đó là Chúa Thánh Thần, Đấng là Quà tặng tình yêu của Thiên Chúa được ban để đi vào trong tâm hồn của người Kitô hữu. Sau khi Chúa Giêsu chết và sống lại, tình yêu của Người được trao ban cho những người tin vào Người và được rửa tội nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chính Thánh Thần hướng dẫn họ, soi sáng cho họ, củng cố họ, để mỗi người có thể bước đi trong cuộc sống, vượt qua cả những nghịch cảnh và khó khăn, dù trong vui mừng hay sầu buồn, vẫn đi theo con đường của Chúa Giêsu. Chúng ta có thể thực hiện được điều này chính là nhờ vâng theo Chúa Thánh Thần, để với sự hiện diện năng động của Người, Người không chỉ an ủi mà còn biến đổi các tâm hồn, hướng chúng đến sự thật và tình yêu.
Trước kinh nghiệm về lỗi lầm và tội lỗi - điều mà tất cả chúng ta đều phạm -, Chúa Thánh Thần giúp chúng ta không ngã quỵ, nhưng đón nhận và sống trọn vẹn ý nghĩa lời của Chúa Giêsu: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" (c.15). Các điều răn được ban cho chúng ta không như một loại gương soi, phản chiếu những khốn khổ và sự không nhất quán của chúng ta. Không, Lời Chúa được ban cho chúng ta như Lời sự sống, biến đổi, canh tân, không phán xét để kết án, nhưng chữa lành và nhắm đến tha thứ. Lời này là ánh sáng soi bước chân của chúng ta. Và tất cả điều này là công việc của Chúa Thánh Thần! Người là Quà tặng của Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, Đấng giúp chúng ta trở thành những người tự do, những người muốn và biết yêu thương, những người đã hiểu rằng cuộc sống là một sứ vụ loan báo những điều kỳ diệu mà Chúa thực hiện nơi những ai tin cậy Người.
Xin Mẹ Maria, mẫu gương của Giáo hội, Đấng biết lắng nghe Lời Chúa và đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, giúp chúng ta sống Tin Mừng cách vui tươi và nhận thức mình được nâng đỡ bởi Chúa Thánh Thần, lửa tình yêu sưởi ấm trái tim và chiếu sáng bước chân của chúng ta.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 6 Phục sinh năm A (21/5/2017) - Nghệ thuật của tình yêu
Anh chị em thân mến!
Bài Tin Mừng hôm nay (Ga 14:15-21) tiếp nối bài Tin Mừng của Chúa nhật trước, đưa chúng ta trở về thời khắc quan trọng giữa Chúa Giêsu và các môn đệ. Đó là bữa tiệc ly. Trong khung cảnh ấy, thánh sử Gioan thuật lại cho chúng ta những lời tâm huyết cuối cùng của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ, trước khi Ngài bước vào cuộc thương khó. Trong thời điểm sầu khổ và đen tối ấy, Chúa Giêsu nói với các môn đệ là những người bạn thân tín rằng, sau khi Chúa ra đi, các môn đệ sẽ nhận được “Đấng An Ủi khác”. Đấng ấy là Đấng Bảo Trợ, Đấng An Ủi, Đấng Bào Chữa, Thần Chân Lý. Chúa Giêsu cũng hứa với các môn đệ, rằng các ông sẽ không bị bỏ rơi, rằng Thầy sẽ trở lại và đến với các ông. Những lời này chứa đựng và trao ban niềm vui lớn lao, niềm vui mới, rằng Chúa sẽ sống lại và vinh quang cùng với Chúa Cha, sẽ đến với chúng ta trong Chúa Thánh Thần. Trong lần trở lại này, Chúa Giêsu sẽ tỏ cho chúng ta thấy mối liên kết hợp nhất giữa Người và Chúa Cha: Anh em biết rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy.
Khi suy niệm những lời ấy, hôm nay chúng ta nhận ra cảm thức đức tin của Dân Chúa trong sự thông hiệp với Chúa Cha và Chúa Con cùng với Chúa Thánh Thần. Trong mầu nhiệm hiệp thông ấy, Giáo Hội tìm thấy suối nguồn vô tận của sứ mạng, và đạt tới sứ mạng ấy trong tình yêu mến. Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu nói: Ai giữ các điều răn của Thầy, thì là người yêu mến Thầy. Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến và Thầy sẽ tỏ mình ra cho người ấy. Chính tình yêu sẽ giúp chúng ta hiểu biết Chúa Giêsu nhờ Chúa Thánh Thần. Yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân là điều răn quan trọng nhất của Tin Mừng. Hôm nay Chúa mời gọi chúng ta quảng đại đáp lại lời yêu thương của Tin Mừng, để chúng ta biết đặt Thiên Chúa nơi trung tâm cuộc sống, và để chúng ta biết dâng hiến chính mình mà phục vụ anh chị em đồng loại, đặc biệt là những người đang cần được giúp đỡ ủi an.
Để có được tinh thần và thái độ ấy, chẳng bao giờ là điều dễ dàng. Ngay cả với cộng đoàn Kitô hữu, để làm điều ấy, cũng chẳng dễ gì. Để yêu thương nhau, chúng ta cần Chúa giúp, cần ân sủng của Người. Đôi khi lại có phản chứng trong cộng đoàn Giáo Hội, ví như sự kiêu ngạo, ghen tị, chia rẽ. Đúng ra, một cộng đoàn Kitô phải sống trong tình yêu của Chúa Kitô, nhưng có khi chúng ta để cho tội lỗi lẻn vào, để cho chính chúng ta bị đánh lừa. Và khi ấy, tinh thần sẽ bị suy yếu. Có lẽ bạn cũng biết, đã có bao nhiêu người quyết định rời xa cộng đoàn và chuyển đi nơi khác, vì họ cảm thấy họ không được đón nhận, vì họ cảm thấy họ không được hiểu, vì họ cảm thấy họ không được yêu mến. Có biết bao người đã rời xa cộng đoàn giáo xứ, bởi vì ở nơi ấy có những chuyện nói hành nói xấu, vì nơi ấy có ghen ghét đố kỵ.
Là Kitô hữu, chúng ta phải biết làm thế nào để yêu thương. Chúng ta không làm điều này một lần cho tất cả. Chúng ta cần bắt đầu mỗi ngày, cần tập luyện hằng ngày, vì tình yêu mến mà chúng ta dành cho anh chị em sẽ ngày càng chín chắn và tinh khiết hơn, nhờ dần vượt qua những giới hạn những tội lỗi những ích kỷ khô khan, những gì chúng ta không thủy chung. Mỗi ngày bạn cần tìm hiểu nghệ thuật yêu thương. Hãy nghe điều này: mỗi ngày bạn phải học nghệ thuật của tình yêu, mỗi ngày bạn phải học theo gương kiên nhẫn trong mái trường của Chúa Kitô, mỗi ngày bạn phải học tha thứ và ngắm nhìn Chúa Giêsu, bạn làm những điều ấy trong sự trợ giúp của Đấng Bảo Trợ, Đấng An Ủi, Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta.
Lạy Đức Nữ Trinh Maria là người môn đệ tuyệt hảo của Chúa Con, xin Mẹ giúp chúng con biết ngoan ngoãn hơn với Đấng An Ủi, Thần Chân Lý, để chúng con biết từng ngày học hỏi nghệ thuật của tình yêu, để chúng con yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng con.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 6 Phục sinh năm A (25/5/2014) - Chúa Thánh Thần chuẩn bị, xức dầu và sai đi
(Tông du Vương Quốc Giordani)
Anh chị em thân mến,
Trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta đã nghe lời Chúa Giêsu hứa với các môn đệ: “Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi” (Ga 14,16). Ðấng Phù Trợ thứ I là chính Chúa Giêsu; Đấng thứ II là Chúa Thánh Thần.
Chúng ta đang hiện diện nơi đây không xa nơi Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trong quyền năng trên Đức Giêsu thành Nazareth, sau khi Gioan đã làm phép rửa cho Đức Giêsu trong sông Giordan (Xc Mt 3,16). Vì thế Tin Mừng chúa nhật này, và cả nơi mà nhờ ơn Chúa tôi ở đây như người hành hương, mời gọi chúng ta hãy suy tư về Chúa Thánh Thần, về điều mà Chúa thực hiện trong Chúa Kitô và nơi chúng ta, và chúng ta có thể tóm tắt thế này: Chúa Thánh Thần thực hiện 3 hành động: chuẩn bị, xức dầu và sai đi.
Trong lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu để chuẩn bị cho Người thi hành sứ mạng cứu độ; sứ mạng này có đặc tính như của một Đầy tớ khiêm hạ và hiền lành, sẵn sàng chia sẻ lịch sử cứu độ và tận hiến toàn toàn. Nhưng Chúa Thánh Thần, hiện diện ngay từ đầu lịch sử cứu độ, đã hoạt động trong Đức Giêsu khi Người được chịu thai trong lòng đồng trinh của Đức Maria thành Nazareth, thực hiện biến cố lạ lùng là sự nhập thể. Thiên Thần nói với Đức Maria: “Chúa Thánh Thần đã bao phủ Trinh Nữ, sẽ che bóng cho Trinh Nữ và Trinh Nữ sẽ sinh Con và được đặt tên là Giêsu” (Xc Lc 1,35). Tiếp đến Chúa Thánh Thần đã hành động trong ông Simeon và bà Anna, trong ngày dâng Chúa Giêsu vào Đền thờ (Xc Lc 2,22). Cả hai vị chờ đợi Đức Thiên Sai, được Chúa Thánh Thần soi sáng và đến thăm Hài Nhi Giêsu, cả hai trực giác thấy rằng đó chính là Đấng toàn dân mong đợi. Họ đã diễn tả một cách ngôn sứ về niềm vui được gặp gỡ Đấng Cứu Độ và, theo một nghĩa nào đó, như một sự chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ giữa Đấng Thiên Sai và dân chúng.
Những công việc khác nhau này của Chúa Thánh Thần là một phần của một hành động hài hòa, một kế hoạch yêu thương thiêng liêng duy nhất. Thực vậy, sứ mệnh của Chúa Thánh Thần là tạo ra sự hài hòa – chính Ngài là sự hài hòa – và kiến tạo hòa bình trong những hoàn cảnh khác nhau và giữa những con người khác nhau. Sự đa dạng về ý tưởng và về con người không nên trở thành nguyên cớ cho sự loại trừ hoặc ngăn trở, vì sự đa dạng luôn làm phong phú thêm. Vì thế, hôm nay, với tâm hồn sốt sắng, chúng ta khẩn cầu Chúa Thánh Thần và xin Ngài dọn đường cho hòa bình và hiệp nhất.
Thứ hai, Thánh Thần xức dầu. Ngài đã xức dầu trong nội tâm cho Đức Giêsu và xức dầu cho các môn đệ, để họ có cùng tâm tình của Đức Giêsu và nhờ đó có thể đảm nhận trong đời sống của họ những thái độ tạo điều kiện dễ dàng cho hòa bình và hiệp thông. Với sự xức dầu của Thánh Thần, nhân tính của chúng ta được ghi đậm sự thánh thiện của Đức Giêsu Kitô và làm cho chúng ta có thể yêu thương anh chị em với cùng tình thương mà Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Vì thế, cần có những cử chỉ khiêm tốn, huynh đệ và tha thứ, hòa giải. Những cử chỉ này là tiền đề và điều kiện để có hòa bình chân thực, vững chắc và lâu bền. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Cha xức dầu chúng ta để chúng ta hoàn toàn trở thành những người con của Ngài, luôn phù hợp với Đức Kitô, để chúng ta cảm thấy tất cả là anh chị em và như thế xua đuổi khỏi chúng ta những oán hận và chia rẽ, đồng thời yêu thương nhau như anh chị em. Và đó là điều Đức Giêsu yêu cầu chúng ta trong Phúc Âm: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy tuân giữ giới răn của Thầy, và Thầy sẽ xin Chúa và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An ủi khác, để Người ở lại với các con mãi mãi” (Ga 14,15-16).
Và sau cùng Chúa Thánh Thần sai đi. Đức Giêsu là Đấng Được Sai Đi, đầy Thánh Thần của Cha. Được xức dầu với cùng Thánh Thần, cả chúng ta cũng được sai đi như sứ giả và chứng nhân hòa bình. Thế giới rất cần chúng ta như những sứ giả của hòa bình, những chứng nhân của hòa bình! Thế giới cần điều này. Thế giới yêu cầu chúng ta mang lại hòa bình và là dấu hiệu của hòa bình!
Hòa bình không thể mua được: đó là một hồng ân cần kiên nhẫn tìm kiếm và xây dựng một cách khéo léo nhờ những cử chỉ lớn nhỏ bao gồm đời sống hằng ngày của chúng ta. Con đường hòa bình được củng cố nếu chúng ta nhìn nhận rằng tất cả chúng ta có cùng máu mủ và là thành phần của nhân loại; nếu chúng ta không quên mình có một người Cha duy nhất trên trời và tất cả đều là con cảu Ngài được dựng nên theo hình ảnh giống Ngài.
Trong tinh thần này, tôi xin chào tất cả anh chị em: Đức Thượng Phụ, anh em giám mục và linh mục, các tu sĩ nam nữ, giáo dân, và nhiều trẻ em hôm nay Rước Lễ Lần Đầu, cùng với gia đình của các em. Tôi cũng trìu mến chào đón nhiều Kitô hữu tị nạn; tất cả chúng ta hãy tha thiết hướng sự chú ý của mình đến họ, đến nhiều người tị nạn Kitô giáo từ Palestine, Syria và Iraq: xin gửi lời chào của tôi đến gia đình và cộng đồng của các bạn, và đảm bảo với họ về sự gần gũi của tôi.
Các bạn thân mến, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên Đức Giêsu cạnh sông Giordan, và khởi sự công trình cứu chuộc hầu giải thoát thế gian khỏi tội lỗi và sự chết. Chúng ta hãy xin Chúa chuẩn bị con tim chúng ta để gặp gỡ anh chị em vượt lên trên những khác biệt về tư tưởng, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo; xin Chúa xức dầu toàn thể con người chúng ta bằng dầu từ bi của Ngài, chữa lành các vết thương sai lầm, thiếu cảm thông, tranh biện, và sai chúng ta đi với lòng khiêm tốn và từ bi trên những nẻo đường khó khăn nhưng phong phú trong công trình tìm kiếm hòa bình.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 6 Phục sinh năm A (29/5/2011) - Tin Mừng đem lại sự sống
Anh chị em thân mến,
Sách Công Vụ các Tông Đồ có kể rằng sau một cuộc bách hại gắt gao, ngoại trừ các Tông Đồ ra, cộng đoàn kitô Giêrusalem phân tán ra các miền chung quanh; và Philiphê, một trong các Phó Tế, đã tới một thành phố vùng Samaria. Ở đó ông rao giảng Chúa Kitô phục sinh và lời loan báo của ông đã được đi kèm bằng nhiều vụ khỏi bệnh, khiến cho kết luận của trình thuật rất có ý nghĩa: “Và trong thành người ta rất vui mừng” (Cv 8,8).
Kiểu nói này gây ấn tượng nơi chúng ta, vì trong nòng cốt nó thông truyền cho chúng ta một ý nghĩa của niềm hy vọng như thể nói với chúng ta rằng: đó là điều có thể được! Nhân loại có thể biết tới niềm vui đích thực bởi vì Tin Mừng đi tới đâu, thì sự sống nở hoa ở đó, như một mảnh đất khô cằn được nước mưa tưới gội, lại trở nên xanh tươi.
Với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Philipphê và các môn đệ khác đã làm trong các làng mạc đất Palestina những gì mà Chúa Giêsu đã làm: họ rao giảng Tin Mừng và làm các dấu lạ. Chính Chúa đã hành động qua họ. Như Chúa Giêsu đã loan báo Nước Thiên Chúa đến, các môn đệ cũng loan báo Chúa Kitô phục sinh, bằng cách tuyên xưng rằng Người là Đức Kitô Con Thiên Chúa, bằng cách rửa tội nhân danh Người và xua trừ mọi bệnh tật trên thân xác cũng như trong tâm hồn.
“Và trong thành người ta rất vui mừng”. Khi đọc đoạn này tự nhiên chúng ta nghĩ tới sức mạnh chữa lành của Tin Mừng, dọc dài các thế kỷ đã “tưới gội” như dòng sông ân phúc biết bao nhiêu dân tộc. Một vài vị Thánh Nam Nữ lớn đã đem lại hy vọng và hòa bình cho nhiều thành phố: chúng ta hãy nghĩ tới thánh Carlo Borromeo tại Milano, trong thời dịch hạch; tới chân phước Têrêsa thành Calcutta; và biết bao nhiêu thừa sai khác. Thiên Chúa biết tên tuổi của các vị là những người đã hiến cuộc sống để loan báo Chúa Kitô và làm nở hoa niềm vui sâu xa giữa con người.
Trong khi các người quyền thế của thế giới này tìm chinh phục các miền đất mới vì các lợi lộc chính trị và kinh tế, thì các sứ giả của Chúa Kitô ra đi khắp nơi, với mục đích đen Chúa Kitô tới cho con người và đem con người tới với Chúa Kitô, vì biết rằng chỉ có Chúa mới vó thể trao ban sự tự do đích thật và sự sống vĩnh cửu cho con người. Cả ngày nay nữa, ơn gọi của Giáo Hội là loan báo tin Mừng cho các dân tộc chưa được nước hằng sống của Tin Mừng tưới gội, cũng như cho các dân tộc có gốc rễ kitô, nhưng cần nhựa sống để sinh ra các hoa trái mới và tái khám phá ra vẻ đẹp và niềm vui của đức tin.
Các bạn thân mến, chân phước Goan Phaolô II đã là một nhà truyền giáo lớn, như một cuộc triển lãm đang tổ chức tại Roma này chứng minh. Người đã tái phát động việc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc, đồng thời đã thăng tiến việc tái truyền giảng Tin Mừng. Chúng ta hãy phó thác cả hai công cuộc này cho lời bầu cử của Mẹ Maria Rất Thánh. Xin Mẹ Chúa Kitô luôn đồng hành khắp nơi với việc loan báo Tin Mừng, để trên thế giới nhân lên nhiều và nới rộng các khoảng không, trong đó con người tìm lại được niềm vui sống như là con cái của Thiên Chúa.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Bài giảng Chúa nhật 6 Phục sinh năm A (27/4/2008) - Sứ mạng đem Tin mừng đến cho mọi người
(Thánh lễ truyền chức linh mục)
Anh chị em thân mến,
Hôm nay những lời "Người đã mang lại cho họ niềm vui chan chứa và sự reo hò hân hoan" trở thành hiện thực đối với chúng ta theo một cách đặc biệt. Thật vậy, ngoài niềm vui cử hành Thánh Thể vào ngày của Chúa, còn có niềm hân hoan thiêng liêng của Chúa nhật thứ Sáu mùa Phục sinh, và trên hết là việc cử hành truyền chức cho các linh mục mới. Cùng với anh chị em, tôi thân ái chào đón 29 phó tế sắp được truyền chức linh mục. Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với những ai đã hướng dẫn họ trong quá trình phân định và chuẩn bị, và tôi xin tất cả anh chị em hãy tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân Người ban cho Giáo hội qua các linh mục mới này. Chúng ta hãy nâng đỡ họ bằng lời cầu nguyện tha thiết trong suốt buổi cử hành này, với tinh thần ngợi khen nồng nhiệt dâng lên Chúa Cha là Đấng đã kêu gọi họ, dâng lên Chúa Con là Đấng đã thu hút họ đến với Người, và dâng lên Chúa Thánh Thần là Đấng đã đào tạo họ. Lễ truyền chức linh mục thường được cử hành vào Chúa nhật IV Phục sinh, được gọi là Chúa Nhật "Chúa Chiên Lành", cũng là ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn Gọi, nhưng điều đó đã không thể thực hiện được vì tôi đang đi Thăm mục vụ tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Hình ảnh Chúa Chiên Lành dường như là hình ảnh soi sáng rõ nét hơn bất kỳ hình ảnh nào khác về vai trò và thừa tác vụ của linh mục trong cộng đoàn Kitô giáo. Tuy nhiên, các đoạn Kinh thánh mà phụng vụ hôm nay đề nghị chúng ta suy niệm cũng chiếu sáng sứ mạng của linh mục từ một góc độ khác.
Bài Đọc I, trích chương 8 sách Công vụ Tông đồ, kể về sứ mạng của phó tế Philipphê tại Samari. Tôi muốn lưu ý ngay câu kết thúc phần đầu của đoạn văn: "Và thành đó vui mừng lắm" (c. 8). Diễn đạt này không truyền đạt một ý tưởng hay một khái niệm thần học, mà đề cập đến một sự kiện cụ thể, một điều gì đó đã thay đổi cuộc sống của con người: tại một thành phố cụ thể ở Samari, trong thời kỳ tiếp sau cuộc bách hại dữ dội Giáo hội tại Giêrusalem (x. Cv 8,1), điều gì đó đã xảy ra mang lại "niềm vui lớn". Vậy đó là điều gì? Tác giả thánh kể rằng để thoát khỏi cuộc bách hại bùng lên tại Giêrusalem nhắm vào những người đã trở lại Kitô giáo, tất cả các môn đệ, trừ các Tông đồ, đã rời khỏi Thành thánh và tản mác ra vùng nông thôn xung quanh. Biến cố đau buồn này một cách huyền nhiệm và quan phòng đã tạo động lực mới cho việc truyền bá Tin mừng. Trong số những người đã tản mác có Philipphê, một trong bảy phó tế của cộng đoàn, một phó tế như anh em, những người sắp được thụ phong, mặc dù tất nhiên theo một cách khác, vì trong thời kỳ Giáo hội sơ khai, các Tông đồ và các phó tế được Chúa Thánh Thần ban cho quyền năng phi thường cả trong việc rao giảng lẫn trong việc chữa lành. Khi ấy, dân cư vùng Samari được đề cập trong chương này của sách Công vụ Tông đồ đã đồng lòng đón nhận lời rao giảng của Philipphê và, nhờ sự gắn bó của họ với Tin mừng, ông đã có thể chữa lành nhiều người bệnh. Tại thành đó ở Samari, giữa một dân tộc theo truyền thống bị người Do Thái khinh thường và gần như bị khai trừ, lời rao giảng về Chúa Kitô đã vang lên. Và lời ấy làm cho tâm hồn của tất cả những ai đón nhận được mở ra. Đây là lý do tại sao, như Thánh Luca nhấn mạnh, "thành đó vui mừng lắm".
Anh chị em thân mến, đây cũng là sứ mạng của anh em: mang Tin mừng đến cho mọi người để mọi người được nếm trải niềm vui của Chúa Kitô và để có niềm vui trong mỗi thành phố. Còn điều gì đẹp hơn thế? Còn điều gì vĩ đại hơn, phấn khích hơn, là cộng tác vào việc loan truyền Lời sự sống trong thế giới, là truyền thông nước hằng sống của Chúa Thánh Thần? Rao giảng và làm chứng cho niềm vui: đây là cốt lõi trung tâm của sứ mạng của anh em, những phó tế thân mến sắp trở thành linh mục. Tông đồ Phaolô đã gọi các thừa tác viên của Tin Mừng là "những người cộng tác cho niềm vui". Ngài đã viết trong Thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô: "Không phải là chúng tôi khống chế đức tin của anh em; trái lại, chúng tôi góp phần tạo niềm vui cho anh em, bởi vì đức tin của anh em đã vững rồi (2 Cr 1,24). Đây là những lời định hướng cho sứ vụ của mỗi linh mục. Để trở thành những người cộng tác cho niềm vui của người khác, trong một thế giới thường buồn bã và tiêu cực, ngọn lửa của Tin mừng phải bừng cháy trong anh em và niềm vui của Chúa phải cư ngụ trong anh em. Chỉ khi đó, anh em mới có thể trở thành những sứ giả và những người nhân thêm niềm vui này, mang nó đến cho tất cả mọi người, đặc biệt cho những ai đang đau buồn và chán nản.
Chúng ta hãy trở lại Bài Đọc I, đã cung cấp cho chúng ta một yếu tố suy niệm khác. Trong đó có nhắc đến một buổi cầu nguyện diễn ra tại chính thành phố Samari đã được phó tế Philipphê loan báo Tin mừng. Chủ tọa buổi cầu nguyện đó là các Tông đồ Phêrô và Gioan, hai "cột trụ" của Giáo hội, đã từ Giêrusalem đến thăm cộng đoàn mới này và củng cố đức tin cho họ. Qua việc đặt tay, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đã được rửa tội. Trong biến cố này, chúng ta có thể thấy một chứng nhận đầu tiên về nghi thức "Thêm Sức", Bí tích khai tâm thứ hai của Kitô giáo. Sự đề cập đến cử chỉ nghi lễ đặt tay đặc biệt có ý nghĩa đối với chúng ta đang quy tụ nơi đây. Thật vậy, đó cũng là cử chỉ trung tâm của nghi thức Truyền chức mà qua đó, một lát nữa, tôi sẽ ban cho các tiến chức phẩm hàm linh mục. Đây là dấu chỉ không thể tách rời khỏi lời cầu nguyện được nối dài trong thinh lặng. Trong thinh lặng, vị Giám mục chủ phong và sau đó là các linh mục hiện diện đặt tay trên đầu các tiến chức, qua đó bày tỏ lời khẩn cầu lên Thiên Chúa để Người tuôn đổ Thánh Thần của Người xuống trên họ và biến đổi họ, làm cho họ trở thành những người tham dự vào chức linh mục của Chúa Kitô. Chỉ diễn ra trong vài giây ngắn ngủi, nhưng đó là khoảnh khắc chan chứa một sức mạnh thiêng liêng phi thường.
Anh em tiến chức thân mến, trong tương lai anh em phải luôn nghĩ lại khoảnh khắc này, cử chỉ này, không mang tính ma thuật nhưng đầy mầu nhiệm, vì đây là nguồn gốc của sứ mạng mới của anh em. Trong lời cầu nguyện thinh lặng đó, cuộc gặp gỡ giữa hai sự tự do được hình thành: tự do của Thiên Chúa, Đấng hoạt động qua Chúa Thánh Thần, và tự do của con người. Việc đặt tay diễn tả một cách hữu hình phương thức đặc thù của cuộc gặp gỡ này: Giáo hội, được hiện thân bởi Giám mục đứng với đôi tay dang ra, cầu khẩn Chúa Thánh Thần để thánh hiến ứng viên; phó tế, đang quỳ gối, đón nhận việc đặt tay và phó thác bản thân cho sự trung gian này. Tất cả những cử chỉ này đều quan trọng, nhưng quan trọng hơn vô cùng là chuyển động thiêng liêng vô hình mà chúng diễn tả, một chuyển động được gợi lên rõ ràng bởi sự thinh lặng thánh thiêng bao trùm tất cả, bên trong lẫn bên ngoài.
Chúng ta cũng gặp thấy trong đoạn Tin mừng này sự “chuyển động” nhiệm mầu của Ba Ngôi, qua đó Chúa Thánh Thần và Chúa Con đến cư ngụ trong các môn đệ. Ở đây, chính Chúa Giêsu hứa rằng Người sẽ xin Chúa Cha sai Thánh Thần của Người, được gọi là "Đấng Bảo Trợ khác" (Ga 14,16), một từ Hy Lạp tương đương với tiếng La-tinh "ad-vocatus", người biện hộ-bảo vệ. Đấng Bảo Trợ thứ nhất thực ra là Chúa Con Nhập Thể, Đấng đã đến để bảo vệ con người khỏi kẻ tố cáo theo nghĩa tuyệt đối, đó là Satan. Vào lúc Chúa Kitô, đã hoàn thành sứ mạng của Người, trở về với Chúa Cha, Người sai Thánh Thần như Đấng Bảo Trợ và Đấng An Ủi ở lại với các tín hữu mãi mãi, cư ngụ bên trong họ. Như vậy, qua sự trung gian của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, một mối quan hệ thân mật có đi có lại được thiết lập giữa Thiên Chúa Cha và các môn đệ. Chúa Giêsu nói: "Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em", (Ga 14,20). Tuy nhiên, tất cả điều này phụ thuộc vào một điều kiện mà Chúa Kitô đặt ra rõ ràng ngay từ đầu: "Nếu anh em yêu mến Thầy" (Ga 14,15), và Người lặp lại ở cuối: "Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy" (Ga 14,21). Nếu không có tình yêu đối với Chúa Giêsu, được diễn tả qua việc tuân giữ các điều răn của Người, thì con người bị loại ra khỏi chuyển động Ba Ngôi và bắt đầu co cụm vào trong chính mình, mất đi khả năng đón nhận và thông truyền Thiên Chúa.
"Nếu anh em yêu mến Thầy." Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã nói những lời này trong Bữa Tiệc Ly trong bối cảnh lúc Người lập Bí tích Thánh Thể và chức linh mục. Mặc dù những lời này được ngỏ với các Tông đồ, nhưng theo một nghĩa nào đó, chúng được ngỏ với tất cả những người kế vị các ngài và với các linh mục, những người cộng tác gần gũi nhất với những người kế vị các Tông đồ. Hôm nay, chúng ta hãy lắng nghe những lời này một lần nữa như là lời mời gọi sống ơn gọi của chúng ta trong Giáo hội ngày càng ngày càng phù hợp hơn với Tin mừng: anh em, những người thụ phong thân mến, hãy lắng nghe những lời này với sự xúc động đặc biệt vì chính hôm nay Chúa Kitô làm cho anh em tham dự vào chức linh mục của Người. Hãy đón nhận những lời này với đức tin và với tình yêu! Hãy để những lời này được khắc ghi trong tâm hồn anh em, hãy để những lời này đồng hành với anh em trong suốt cuộc đời. Đừng quên những lời này, đừng đánh mất những lời này dọc đường! Hãy đọc lại, hãy suy niệm những lời này thường xuyên và, đặc biệt, hãy cầu nguyện với những lời này. Như vậy anh em sẽ trung thành với tình yêu của Chúa Kitô và nhận ra với niềm vui luôn mới mẻ rằng Lời thần linh của Người "đồng hành" với anh em và "lớn lên" trong lòng anh em.
Một nhận xét nữa về Bài Đọc II: đoạn trích được lấy từ Thư thứ nhất của Phêrô, người mà chúng ta đang ở bên cạnh ngôi mộ của ngài và tôi đặc biệt muốn trao phó anh em cho sự chuyển cầu của ngài. Tôi nhận làm của mình và trao gửi cho anh em với tình yêu mến những lời này của ngài: "Hãy tôn thờ Đức Kitô là Chúa trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em" (1 Pr 3,15). Hãy thờ phượng Chúa Kitô là Chúa trong tâm hồn anh em: hãy vun trồng một mối tương quan yêu thương cá vị với Người, tình yêu đầu tiên và lớn lao nhất, duy nhất và tất cả, trong đó hãy sống, thanh lọc, chiếu sáng và thánh hóa tất cả mọi tương quan khác của anh em. "Niềm hy vọng đang ở trong anh em" gắn liền với "sự thờ phượng" này, với tình yêu đối với Chúa Kitô, Đấng qua Thánh Thần, như chúng ta đã nói, cư ngụ trong chúng ta. Niềm hy vọng của chúng ta, niềm hy vọng của anh em là Thiên Chúa, trong Chúa Giêsu và trong Thánh Thần. Đó là niềm hy vọng mà từ hôm nay trở nên trong anh em một "niềm hy vọng linh mục," niềm hy vọng của Chúa Giêsu, Chúa Chiên Lành cư ngụ trong anh em và định hình những ước muốn của anh em theo Thánh Tâm thần linh của Người: niềm hy vọng về sự sống và ơn tha thứ cho những người được trao phó cho sự chăm sóc mục vụ của anh em; niềm hy vọng về sự thánh thiện và kết quả tông đồ cho chính anh em và cho toàn thể Giáo hội; niềm hy vọng về sự cởi mở với đức tin và cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa cho những ai mà anh em nâng đỡ trong hành trình tìm kiếm chân lý; niềm hy vọng về bình an và an ủi cho những người đau khổ và những người bị thương tổn bởi cuộc đời.
Anh chị em thân mến, đây là điều tôi chúc cho anh em trong ngày trọng đại này đối với anh em: xin cho niềm hy vọng bén rễ trong đức tin ngày càng trở thành của chính anh em! Và xin cho anh em, những người khôn ngoan và quảng đại, hiền lành và mạnh mẽ, luôn là những chứng nhân và những người phân phát niềm hy vọng đó một cách kính trọng và xác tín. Xin Đức Trinh Nữ Maria, là Mẹ và Ngôi Sao của cuộc đời anh em và thiên chức linh mục của anh em, người mà tôi khuyến khích anh em đón nhận một lần nữa như Tông đồ Gioan đã đón nhận Mẹ dưới chân Thánh Giá, đồng hành với anh em trong sứ mạng này và luôn gìn giữ anh em. Amen!
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 6 Phục sinh năm A (27/4/2008) - Linh mục, người phụng sự niềm vui
Anh chị em thân mến
Thánh lễ ở đền thờ thánh Phêrô vừa mới kết thúc, và tôi đã truyền chức cho 29 tân linh mục. Hằng năm, đây là một buổi lễ lớn và một hồng ân đặc biệt, bởi vì một nhựa sống mới đã được tiêm vào cộng đồng của giáo hội cũng như xã hội. Sự hiện diện của các linh mục là điều không thể nào thiếu trong đời sống Giáo hội, và sự hiện diện đó cũng là một điều quý giá cho hết mọi người. Chúng ta đọc trong Sách Tông đồ công vụ rằng trợ tá Philipphê đem Tin mừng đến một thành phố ở Samaria, dân chúng đã hăm hở chấp nhận lời giảng của ông, vì thấy những dấu lạ mà ông thực hiện đối với các người bệnh; và “cả thành phố đều vui mừng” (8,8). Như tôi đã nhắc nhở các linh mục trong thánh lễ truyền chức, sứ mạng của Giáo hội và của các linh mục là gieo rắc cho thế giới niềm vui của Tin mừng! Đâu mà Chúa Kitô được loan truyền với sức mạnh của Thánh Linh và được tiếp đón rộng rãi, thì xã hội tuy dù sống giữa trăm ngàn vấn đế, nhưng trở nên “thành phố của niềm vui”, tựa đề của một cuốn sách viết về hoạt động của Mẹ Teresa Calcutta. Đây là lời chúc dành cho các linh mục mà tôi xin tất cả mọi người hãy cầu nguyện: xin cho các linh mục đi tới đâu thì hãy truyền bá niềm vui mừng và hy vọng trào ra từ Tin mừng.
Thực ra, đây cũng là sứ điệp mà tôi đã đem sang Hoa kỳ trong những ngày vừa qua, với một chuyến đi dưới khẩu hiệu “Christ Our Hope – Chúa Kitô, niềm hy vọng của chúng ta”. Tôi xin tạ ơn Chúa vì đã ban phúc lành dồi dào cho kinh nghiệm truyền giáo đặc biệt này của tôi, và đã dùng tôi như công cụ cho niềm hy vọng của Chúa Kitô dành cho Giáo hội và quốc gia Hoa Kỳ. Đồng thời tôi cũng xin tạ ơn Chúa vì chính tôi cũng được củng cố bởi niềm hy vọng của các người công giáo Hoa kỳ: thực thế tôi đã chứng kiến một sức sống mãnh liệt và một lòng cương quyết muốn sống và làm chứng cho đức tin vào Chúa Giêsu. Thứ tư tới đây, trong buổi tiếp kiến chung, tôi sẽ nói đến chuyến viếng thăm Hoa kỳ.
Hôm nay, nhiều Giáo hội bên Đông phương mừng lễ Phục sinh, dựa theo lịch Giulianô. Tôi muốn bày tỏ cùng các anh chị em này sự gần kề về tinh thần. Tôi xin thân ái chào thăm anh chị em, và nguyện xin Chúa Cả Ba ngôi củng cố anh chị em trong đức tin, trút đổ ánh sáng rực rỡ của Chúa Phục sinh, và củng cố anh chị em trong những hoàn cảnh không dễ dàng mà anh chị em thường gặp phải trong cuộc sống và làm chứng cho Tin mừng. Tôi xin mời gọi mọi người hợp ý với tôi khẩn nài Đức Mẹ, ngõ hầu con đường đối thoại và hợp tác đã khởi đầu sớm mang lại sự thông hiệp trọn vẹn giữa các môn đệ của Chúa Kitô, để họ mãi trở nên một dấu chỉ rạng ngời về hy vọng cho toàn thể nhân loại.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Nguồn tin: hdgmvietnam.org
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn