Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (02/4/2023) - Đấng bị bỏ rơi không bỏ mặc ai một mình
Anh chị em thân mến,
“Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46). Đó là lời khẩn cầu mà phụng vụ muốn chúng ta lặp lại hôm nay trong thánh vịnh đáp ca (x. Tv 22, 2), và đó là lời duy nhất được Chúa Giêsu nói ra trên thập giá trong Tin Mừng mà chúng ta đã nghe. Do đó, đây là những lời dẫn chúng ta đến tâm điểm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, đến tột đỉnh của những đau khổ Người đã chịu để cứu độ chúng ta.
Những đau khổ mà Chúa Giêsu đã trải qua thì nhiều vô kể và mỗi khi chúng ta lắng nghe câu chuyện về cuộc khổ nạn, những đau khổ ấy đi vào bên trong chúng ta. Đó là những đau khổ về thể xác: từ bị tát cho đến bị đòn, từ roi vọt cho đến đội mão gai, rồi đến tra tấn trên thập giá. Có cả những đau khổ về tâm hồn: bị Giuđa phản bội, bị Phêrô chối bỏ, bị lên án về mặt tôn giáo và dân sự, bị lính canh nhạo báng, bị sỉ nhục từ dưới thập giá, bị nhiều người khước từ, xem ra thất bại trong mọi sự, bị các môn đệ bỏ rơi. Tuy nhiên, trong tất cả nỗi đau này, có một điều chắc chắn vẫn còn ở lại với Chúa Giêsu: sự gần gũi của Chúa Cha. Nhưng bây giờ điều không tưởng đã xảy ra; trước khi chết Chúa Giêsu kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
Đây là sự đau khổ tột cùng, đau khổ trên bình diện thiêng liêng: trong giờ bi đát nhất Chúa Giêsu cảm nghiệm sự bỏ rơi của Thiên Chúa, trước đó chưa bao giờ Người gọi Chúa Cha bằng danh xưng chung chung là Thiên Chúa, Tin Mừng cũng thuật lại câu bằng tiếng Aram; là lời duy nhất, trong số những lời Chúa Giêsu nói trên thập giá, đến với chúng ta bằng ngôn ngữ gốc. Biến cố này là có thật và đó là một sự suy sụp tột cùng, sự bỏ rơi của Cha: Chúa đến để chịu đau khổ vì yêu chúng ta, điều mà thậm chí chính chúng ta còn khó hiểu. Nhìn thấy bầu trời khép kín, trải nghiệm ranh giới cay đắng của sự sống, sự tối tăm của hiện hữu, sự sụp đổ của mọi điều chắc chắn, Chúa Giêsu thét lên “câu hỏi của những câu hỏi tại sao?”
“Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Động từ “bỏ” trong Kinh Thánh rất mạnh mẽ; nó xuất hiện trong những lúc đau đớn tột cùng: trong những tình yêu thất bại, bị từ chối và bị phản bội; ở những đứa trẻ bị từ khước và những thai nhị bị phá bỏ; trong cảnh cơ hàn, góa bụa, mồ côi; trong những cuộc hôn nhân kiệt quệ, trong những động thái loại trừ, tước bỏ các mối quan hệ xã hội, trong sự áp bức bất công và trong sự cô độc của bệnh tật: nói tóm lại, trong những mối quan hệ bị cắt đứt nghiêm trọng nhất. Chúa Kitô đã mang điều này lên thập tự giá, gánh lấy tội lỗi của thế giới. Và ở đỉnh điểm, chính Chúa Kitô, Con Duy Nhất và Chí Ái, đã trải qua một hoàn cảnh xa lạ nhất đối với Người: sự xa cách Thiên Chúa.
Tại sao mọi sự lại đi xa đến vậy? Vì chúng ta. Không có câu trả lời khác. Chúa Giêsu đã liên đới với chúng ta đến cùng, ở bên chúng ta đến tận cùng. Chúa Kitô đã trải nghiệm tình cảnh bị bỏ rơi để không bỏ rơi chúng ta làm con tin của sự hoang vắng và Người ở bên chúng ta mãi mãi. Người đã làm như vậy vì tôi, vì anh hay vì chị; bởi vì khi tôi, mỗi chúng ta hay bất cứ ai khác thấy mình bị dồn vào chân tường, lạc lối trong ngõ cụt, chìm trong vực thẳm của sự bỏ rơi, bị hút vào vòng xoáy “tại sao và tại sao”, thì vẫn còn hy vọng. Đó không phải là điểm kết thúc, bởi vì Chúa Giêsu đã ở đó và bây giờ Người đang ở với mỗi người chúng ta: Chúa Kitô đã chịu đựng sự xa cách của sự bỏ rơi để đón nhận mọi khoảng cách của chúng ta trong tình yêu của Ba Ngôi. Để mỗi người chúng ta có thể nói: trong sự sa ngã của con, trong sự cô đơn của con, khi con cảm thấy bị phản bội, bị loại trừ và bị bỏ rơi. Ngài ở bên con; khi con cảm thấy sai lầm và lạc lối, khi con không thể chịu đựng được nữa, Chúa vẫn ở đó, Ngài ở bên con; trong khắc khoải “tại sao” chưa được giải đáp của con, Chúa đang ở bên con.
Chúa cứu chúng ta, từ bên trong nỗi khắc khoải “tại sao” của chúng ta. Từ đó, hy vọng mở ra. Thực vậy, trên thập giá, dù bị bỏ rơi đến tột cùng, Chúa Giêsu không để mình tuyệt vọng, nhưng cầu nguyện và phó thác. Người thét lên câu hỏi “tại sao” của mình bằng những lời của một thánh vịnh (22, 2) và phó mình trong tay Chúa Cha, ngay cả khi Người cảm thấy Chúa Cha ở xa (x. Lc 23, 46). Trong sự từ bỏ, Chúa Giêsu tin tưởng. Không những thế: trong khi bị bỏ rơi, Chúa vẫn tiếp tục yêu thương các môn đệ, những kẻ đã bỏ rơi Người, và tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Người (c. 34). Ở đây vực thẳm sự dữ của chúng ta phải đắm chìm trong một tình yêu lớn lao hơn, để mọi sự xa cách của chúng ta được biến thành sự hiệp thông.
Anh chị em thân mến, một tình yêu như thế, tất cả vì chúng ta, cho đến cùng, có thể biến đổi trái tim chai đá của chúng ta thành trái tim bằng thịt, biết cảm thương, dịu dàng và trắc ẩn. Chúa Kitô bị bỏ rơi thúc đẩy chúng ta tìm kiếm Người và yêu mến Người trong những kẻ bị bỏ rơi. Bởi vì nơi họ, chúng ta không chỉ thấy những người túng thiếu, mà còn thấy chính Chúa, Chúa Giêsu Bị Bỏ Rơi, Đấng đã cứu chúng ta bằng cách xuống tận đáy thẳm thân phận làm người của chúng ta. Đây là lý do tại sao Chúa Giêsu muốn chúng ta chăm sóc những anh chị em giống Người nhất, cách riêng trong những đau đớn và cô đơn tột cùng. Ngày nay có nhiều “Đức Kitô bị bỏ rơi”. Có cả nhiều dân tộc bị khai thác và bỏ mặc cho khả năng xoay xở của riêng họ; có những người nghèo sống ở ngã tư đường và chúng ta không đủ can đảm để nhìn vào mắt họ; ngày nay những người di cư không còn là những khuôn mặt mà là những con số; các tù nhân bị từ chối, con người bị giản lược thành các vấn đề. Nhưng cũng có nhiều “Đức Kitô bị bỏ rơi vô hình”, bị khuất lấp, bị bỏ rơi bởi những đôi găng tay trắng: những đứa trẻ chưa chào đời, những người già bị bỏ lại một mình, những người bệnh không được thăm viếng, những người tàn tật bị quên lãng, những người trẻ cảm thấy trống rỗng bên trong mà không có ai thực sự lắng nghe tiếng kêu đầy nhức nhối của họ.
Chúa Giêsu bị bỏ rơi yêu cầu chúng ta để mắt và để tâm cho những người bị bỏ rơi. Đối với chúng ta, những môn đệ của Đấng Bị Bỏ Rơi, không ai có thể bị gạt ra bên lề, không ai có thể bị bỏ mặc tự thân xoay xở; bởi vì, chúng ta hãy nhớ rằng, những người bị từ chối và bị loại trừ là những hình ảnh sống động của Chúa Kitô, họ nhắc nhở chúng ta về tình yêu đến điên dại của Người, nhắc chúng ta rằng chính kinh nghiệm bị từ bỏ của Chúa Kitô đã cứu chúng ta khỏi mọi cô đơn và hoang vắng. Hôm nay chúng ta xin ơn này: biết yêu mến Chúa Giêsu bị bỏ rơi và biết yêu mến Chúa Giêsu trong mỗi người bị bỏ rơi. Chúng ta xin ơn để có thể nhìn thấy và nhận ra Chúa, Đấng vẫn đang thét gào nơi họ. Chúng ta đừng để tiếng nói của Chúa Giêsu lạc mất trong sự im lặng chói tai của thờ ơ. Thiên Chúa đã không bỏ mặc chúng ta một mình; phần chúng ta, hãy chăm sóc những người bị bỏ lại đơn độc. Khi đó, chỉ khi đó, chúng ta mới có được những ước muốn và tâm tình của Đấng đã “hủy mình ra không” vì chúng ta (Pl 2, 7).
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (05/4/2020) - Bị phản bội và bị ruồng bỏ
Anh chị em thân mến,
“Đức Giêsu đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2,7).
Chúng ta hãy để cho những lời này của Thánh Phaolô dẫn chúng ta vào những ngày thánh thiêng này. Trong những ngày này, Lời Chúa như một điệp khúc cho thấy Chúa Giêsu như một tôi tớ: Thứ Năm Tuần Thánh, Chúa là một đầy tớ rửa chân cho các môn đệ; Thứ Sáu Tuần Thánh Chúa được giới thiệu như một tôi tớ đau khổ và chiến thắng (Is 52, 13); và ngày mai, lời ngôn sứ Isaia nói về Chúa: “Đây là người tôi tớ Ta nâng đỡ” (Is 42,1). Thiên Chúa đã cứu độ chúng ta bằng cách phục vụ chúng ta. Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta là những người phục vụ Chúa. Không, chính Chúa phục vụ chúng ta cách nhưng không, bởi vì Chúa yêu thương chúng ta trước. Thật khó để yêu nếu không để mình được yêu. Và còn khó phục vụ hơn nếu chúng ta không để cho chính mình được Thiên Chúa phục vụ.
Nhưng Chúa đã phục vụ chúng ta như thế nào? Bằng cách hiến mạng sống mình vì chúng ta. Đối với Thiên Chúa, chúng ta rất quý giá và Ngài đã phải trả cái giá rất đắt vì chúng ta. Thánh Angela thành Foligno đã làm chứng là đã nghe được những lời này của Chúa Giêsu: “Tình yêu Ta dành cho con không phải là một trò đùa”. Tình yêu Người dành cho chúng ta đã khiến Người hy sinh chính mình cho chúng ta, nhận lấy nơi mình tất cả những tội lỗi của chúng ta. Điều làm chúng ta kinh ngạc là: Thiên Chúa đã cứu độ chúng ta bằng cách gánh lấy mọi án phạt tội lỗi của chúng ta. Ngài không phàn nàn kêu trách, nhưng với sự khiêm nhường, kiên nhẫn và vâng lời của một người tôi tớ, và chỉ bằng sức mạnh của tình yêu. Và Chúa Cha đã nâng đỡ sự phục vụ của Chúa Giêsu: Chúa Cha không đánh bại cái ác đã nghiền nát Chúa Giêsu, nhưng đã nâng đỡ Người trong đau khổ, để rồi cái ác của chúng ta chỉ có thể chiến thắng bằng sự thiện, chỉ có thể chiến thắng hoàn toàn bằng tình yêu, một tình yêu cho đến tận cùng.
Thiên Chúa đã phục vụ chúng ta đến mức trải qua những cảnh huống đau khổ nhất của một người khi yêu, đó là phản bội và ruồng bỏ.
Chúa Giêsu đã chịu sự phản bội của người môn đệ đã bán mình và của người môn đệ đã chối mình. Người bị phản bội bởi những ai đã từng hoan hô ca ngợi, rồi sau đó lại la lên: “Đóng đinh nó vào thập giá” (Mt 27,2). Chúa bị phản bội bởi chính thể chế tôn giáo đã kết án Người bất công và bởi thể chế chính trị đã rửa tay chối bỏ trách nhiệm. Chúng ta hãy nghĩ đến những phản bội lớn nhỏ mà mình đã phải chịu đựng trong cuộc sống. Thật là kinh khủng khi chúng ta phát hiện ra rằng niềm tin mà chúng ta đặt vào lại bị lừa dối. Tận thẳm sâu tâm hồn nảy sinh một sự thất vọng chán nản, và cuộc sống dường như không còn ý nghĩa. Điều này xảy ra bởi vì chúng ta được sinh ra để được yêu thương và để yêu thương, và điều đau khổ hơn cả đó là khi bị người đã hứa trung thành và gần gũi với mình phản bội. Chúng ta cũng không thể tưởng tượng nổi Thiên Chúa đau khổ thế nào khi bị phản bội, vì Thiên Chúa là tình yêu.
Hãy nhìn vào chính tâm hồn mình. Nếu thành thật với chính mình, chúng ta sẽ thấy sự thất tín của chúng ta. Biết bao lần giả dối, giả hình và sai lầm! Biết bao nhiêu ý hướng phản bội! Biết bao lần thất hứa! Biết bao quyết tâm chưa hoàn thành! Chúa biết tâm hồn chúng ta rõ hơn chúng ta biết về mình. Ngài biết chúng ta yếu đuối và hay đổi thay thế nào. Ngài biết chúng ta vấp ngã bao nhiều lần, biết chúng ta đứng lên khó đến thế nào, và Ngài biết việc chữa lành những tổn thương khó đến dường nào. Và Chúa đã làm gì để đến gặp gỡ chúng ta, để phục vụ chúng ta? Người đã nói qua ngôn sứ: "Ta sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung, sẽ yêu thương chúng hết tình" (Hs 14, 5). Người đã chữa lành chúng ta bằng cách nhận lấy nơi mình sự bất trung của chúng ta, xóa bỏ sự phản bội chúng ta. Vì thế, thay vì chán nản vì sợ thất bại, chúng ta có thể ngước nhìn lên Cây Thánh Giá, đón nhận vòng tay của Thiên Chúa và thưa: “Lạy Chúa Giêsu, đây chính là sự bất tín của con, sự bất tín mà Chúa đã nhận lấy vào nơi mình. Chúa mở rộng vòng tay với con, Chúa phục vụ con bằng tình yêu, và tiếp tục nâng đỡ con ... Và nhờ thế con sẽ tiến bước! ".
Trong Tin mừng hôm nay, từ trên Thánh giá, Chúa Giêsu chỉ nói một câu: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mt 27,46). Đó là những lời rất mạnh. Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì bị các môn đệ bỏ rơi, họ đã chạy trốn hết. Nhưng Chúa Cha vẫn ở bên Người. Giờ đây, trong vực thẳm cô đơn, lần đầu tiên Chúa Giêsu gọi Cha bằng tên chung là "Thiên Chúa". Và Người kêu “lớn tiếng” "tại sao" với một giọng thảm thiết: "Tại sao Chúa nỡ lòng ruồng bỏ con". Đây thực sự là những lời của Thánh vịnh (Tv 22, 2): những lời này nói với chúng ta rằng Chúa Giêsu cũng nghiệm thấy nỗi u sầu và hoang vắng tột cùng trong lời cầu nguyện của mình. Nhưng thực tế là chính Người đã kinh qua nỗi đau khổ ấy: Người đã kinh nghiệm mình bị bỏ rơi đến tột cùng, và các Tin mừng đã làm chứng khi trích dẫn những lời chính Người thốt lên: Elì, Elì, lemà sabactàni? "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mt 27,46).
Tại sao tất cả những điều này lại xảy ra? Một lần nữa, điều ấy xẩy ra là vì chúng ta, để phục vụ chúng ta. Bởi vì khi chúng ta cảm thấy bị dồn vào chân tường, khi thấy mình đi vào ngõ cụt, không có ánh sáng và không có lối thoát, khi dường như ngay cả Thiên Chúa cũng không đáp lại, chúng ta hãy nhớ rằng chúng ta không cô đơn. Chúa Giêsu đã kinh nghiệm thấy mình hoàn toàn bị bỏ rơi, trong tình cảnh mà từ trước đến giờ Ngài chưa bao giờ trải qua để liên đới với chúng ta trong mọi sự. Người đã làm điều đó cho tôi, cho anh chị em, và để nói với anh chị em: "Đừng sợ, các con không cô đơn. Thầy đã trải qua mọi nỗi u sầu của các con để mãi mãi ở bên các con. Đó là mức độ Chúa Giêsu phục vụ chúng ta: Người đã đi xuống vực thẳm của những đau khổ tàn khốc nhất của chúng ta, mà đỉnh điểm là bị phản bội và bị ruồng bỏ. Hôm nay, trong thảm kịch của đại dịch, trước rất nhiều điều dường như chắc chắn lại đang vỡ vụn, trước rất nhiều kỳ vọng bị phản bội, trong cảm giác bị ruồng bỏ đè nặng con tim chúng ta, Chúa Giêsu nói với mỗi người: “Hãy can đảm, hãy mở lòng cho tình yêu của Ta. Con sẽ cảm nhận được niềm an ủi của Thiên Chúa, Đấng nâng đỡ con”.
Anh chị em thân mến, đặt mình trước mặt Chúa, Đấng đã phục vụ chúng ta, phục vụ cho đến mức bị phản bội và bị ruồng bỏ, chúng ta có thể làm gì? Chúng ta có thể chối rằng mình không phản bội Đấng mà vì Người chúng ta được dựng nên, chúng ta có thể chối rằng mình không bỏ điều thực sự quan trọng trong đời sống của mình. Chúng ta được đặt để trong thế giới này để yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Tất cả sẽ qua đi, chỉ còn lại điều này. Thảm kịch chúng ta đang trải qua thôi thúc chúng ta nghiêm túc thực hiện những gì là nghiêm túc, không để mình bị hư mất trong những điều tầm thường. Thảm kịch này cũng thôi thúc chúng ta tái khám phá ra rằng: cuộc sống không có ích gì nếu nó không được sử dụng để phục vụ người khác.
Vì cuộc sống được đo bằng tình yêu. Vì vậy, trong những ngày thánh thiêng này, tại nhà, chúng ta hãy đứng trước Đấng bị đóng đinh, thước đo đầy đủ nhất của tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Và đứng trước Thiên Chúa, Đấng phục vụ chúng ta đến mức hiến mạng sống mình, chúng ta hãy xin ân sủng sống để phục vụ. Chúng ta hãy tìm cách đến với những ai đang đau khổ, những người cô đơn và thiếu thốn. Chúng ta không chỉ nghĩ về những gì chúng ta đang thiếu, mà là những điều tốt đẹp chúng ta có thể làm cho người khác.
Đây là người tôi tớ Ta nâng đỡ. Chúa Cha, Đấng đã nâng đỡ Chúa Giêsu trong Cuộc Khổ Nạn, cũng nâng đỡ chúng ta trong nỗ lực phục vụ của mình. Yêu thương, cầu nguyện, tha thứ, quan tâm đến người khác, trong gia đình cũng như ngoài xã hội, có thể phải trả giá. Điều này giống như đường Thánh giá. Nhưng đó là con đường phục vụ, là con đường chiến thắng, con đường mà Chúa dùng để cứu độ và ban tặng sự sống cho chúng ta.
Tôi muốn nói điều này đặc biệt với các bạn trẻ nhân ngày đã dành riêng cho các bạn suốt 35 năm qua. Các con thân mến, các con hãy nhìn vào những anh hùng thực sự xuất hiện trong những ngày này: họ không phải là những người nổi tiếng, giàu có hay thành đạt; đúng hơn, họ là những người dấn thân hết mình để phục vụ người khác. Hãy cảm nhận chính mình được kêu gọi để đặt cuộc sống của các bạn vào cuộc đời. Đừng ngại cống hiến cuộc sống của mình cho Chúa và cho người khác, các con sẽ được nhận lại! Bởi vì sự sống là một món quá, một hồng ân mà chúng ta chỉ nhận được khi biết trao ban; và niềm vui sâu xa nhất của chúng ta đến từ việc chúng ta nói "có" với tình yêu, chứ không nói “nếu” và không nói “nhưng”. Như Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta, không nói “nếu” và không nói “nhưng” với tình yêu.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (09/4/2017) - Gương mặt của Chúa Giêsu, Vua Cứu Thế
Anh chị em thân mến!
Việc cử hành này có hai mùi vị, ngọt ngào và cay đắng, tươi vui và đớn đau, bởi vì trong nó chúng ta cử hành Chúa vào thành Giêrusalem được các môn đệ tung hô như là vua; đồng thời cũng được loan báo trình thuật phúc âm cuộc Khổ Nạn của Ngài. Vì thế con tim chúng ta cảm thấy sự mâu thuẫn đớn đau, và cảm nhận được trong vài phần nhỏ bé nào đó điều Chúa Giêsu đã phải cảm nhận trong con tim của Ngài trong ngày ấy, ngày Ngài vui mừng với các bạn mình và khóc thương trên thành Giêrusalem.
Từ 32 năm qua chiều kích tươi vui của Chúa Nhật này đã được phong phú bởi lễ của người trẻ: đó là Ngày Quốc Tế Giới Trẻ năm nay được cử hành ở cấp giáo phận, nhưng tại Quảng trường này trong chốc lát nữa đây sẽ sống một lúc ngày càng cảm động hơn có các chân trời rộng mở, với việc người trẻ Cracovia trao Thánh Giá cho người trẻ Panama.
Bài Phúc Âm được công bố trước buổi rước lá (x. Mt 21,1-11) miêu tả Chúa Giêsu xuống núi Cây Dầu trên lưng con lừa con chưa có ai cỡi bao giờ. Nó nêu bật sự hăng say của các môn đệ, đi theo Thầy với các lời tung hô lễ hội. Và thật dễ tưởng tượng điều này lây lan sang các người trẻ của thành phố kết hiệp niềm vui của họ với đám rước như thế nào. Chính Chúa Giêsu thừa nhận trong sự tiếp đón tươi vui ấy một sức mạnh không thể nào ngăn chặn được do Thiên Chúa muốn, và Ngài nói với các người Pharisêu cho đó là gương mù gương xấu: “Tôi nói với các ông rằng, nếu những người này thinh lặng, thì các hòn đá này sẽ kêu lên” (Lc 19,40).
Nhưng Đức Giêsu mà theo Thánh Kinh, vào Thành Thánh trong kiểu này, không phải là một kẻ mộng mơ gieo vãi các ảo tưởng, một ngôn sứ của “thời mới”, một kẻ bán khói, trái lại Ngài là một Đức Messia được xác định, với gương mặt cụ thể của người tôi tớ, người tôi tớ của Thiên Chúa và của con người đi chịu khổ nạn. Ngài là Người Kiên Nhẫn vĩ đại của nỗi khổ đau của con người.
Như vậy cả chúng ta nữa khi mừng lễ Vua chúng ta, chúng ta nghĩ tới các khổ đau Ngài đã phải chịu trong Tuần này. Chúng ta nghĩ tới các vu khống, các lăng nhục, các cạm bẫy, sự bỏ rơi, việc kết án gian ác, các đánh đập, các đòn vọt, mão gai… và sau cùng là thập giá cho tới khi bị đóng đanh.
Chính Chúa đã nói rõ ràng cho các môn đệ biết: “Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ chính mình, vác lấy thập giá mình mà theo Ta” (Mt 16,24). Ngài đã không bao giờ hứa danh dự và thành công. Các Phúc Âm nói rõ ràng. Ngài đã luôn luôn báo trước cho các bạn hữu Ngài rằng con đường của Ngài là con đường ấy, và chiến thắng cuối cùng phải đi qua cuộc khổ nạn và thập giá. Và chính điều này cũng có giá trị đối với chúng ta. Để trung thành theo Chúa Giêsu chúng ta hãy xin ơn làm điều đó không phải với lời nói, nhưng với các việc làm, và kiên nhẫn nhận chịu thập giá của chúng ta: không khước từ nó, không vứt nó đi, nhưng nhìn Chúa, chấp nhận nó và vác nó mỗi ngày.
Đức Giêsu, Đấng chấp nhận được tung hô, dù biết rằng tiếng kêu “đóng đinh nó vào thập giá” đang chờ đợi Ngài, không xin chúng ta chỉ chiêm ngưỡng Ngài trong các bức tranh hay trong các hình chụp, hoặc trong các video lưu hành trên mạng. Không, Ngài hiện diện nơi biết bao nhiêu anh chị em ngày nay chịu khổ đau như Ngài: họ khổ đau vì một công việc như của nô lệ, họ khổ đau vì các thảm cảnh gia đình, vì tật bệnh… Họ khổ đau vì chiến tranh và khủng bố, vì các lợi lộc di chuyển vũ khí và khiến cho chúng bắt giết. Các người nam nữ bị lừa đảo, bị xúc phạm trong phẩm giá của họ, bị loại bỏ… Chúa Giêsu ở trong họ, trong từng người trong họ và với gương mặt méo mó, với tiếng nói gãy bể xin được nhìn, được thừa nhận, được yêu thương.
Không phải là một Giêsu khác: nhưng cũng chính là Giêsu đã vào thành Giêrusalem giữa những cành lá chà là và ô liu phất phới. Đó cũng chính là Đấng đã bị đóng đanh vào thập giá và chết giữa hai tên tội phạm. Chúng ta không có Chúa nào khác ngoài Ngài ra: là Đức Giêsu, Vua khiêm hạ của công lý, lòng thương xót và hoà bình.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (13/4/2014) - Tôi là ai?
Anh chị em thân mến,
Tuần này bắt đầu với việc rước những nhành lá Ô-liu: tất cả mọi người chào đón Giêsu. Trẻ em, thanh thiếu niên ca hát, ngợi ca Đức Giêsu.
Với tuần này, chúng ta tiến vào mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Đức Giêsu. Chúng ta đã vừa nghe cuộc thương khó của Chúa: cuộc thương khó ấy đặt ra cho chúng ta một câu hỏi rất lý thú: tôi là ai? Tôi là ai trước Thiên Chúa của tôi? Tôi là ai, trước Giêsu Đấng tiến vào Ngày Lễ Vượt Qua ở Giêrusalem? Tôi có diễn tả niềm vui của tôi, tôi có chúc tụng Người không? Hay tôi đứng đàng xa? Tôi là ai trước Đức Giêsu đang chịu đau khổ?
Chúng ta nghe thấy rất nhiều cái tên. Nhóm lãnh đạo, một số tư tế, Pharisêu, thầy thông luật đã quyết định giết Đức Giêsu. Họ chờ cơ hội để triệt hạ Người. Tôi có là một trong số họ không?
Chúng ta cũng nghe một tên khác: Giuđa, 30 đồng bạc. Tôi có là Giuđa không? Chúng ta cũng nghe một số tên khác: các môn đệ chẳng hiểu gì cả, họ buồn ngủ khi Chúa đang chịu đau khổ.
Cuộc sống của tôi có buồn ngủ không? Tôi có giống các môn đệ, không hiểu điều gì là phản bội Giêsu không? Tôi có giống một số các môn đệ khác muốn giải quyết mọi chuyện với đao kiếm không? Tôi có giống Giuđa, kẻ giả vờ yêu và hôn Thầy mình để giao nộp Thầy, để phản bội Thầy không? Tôi có là kẻ phản bội không? Tôi có giống như các nhà lãnh đạo vội vàng triệu tập tòa án và tìm chứng gian không? Và giả như tôi có làm những điều này thì khi ấy tôi có tin là với những điều này tôi có thể cứu độ mọi dân không?
Tôi có giống Philatô không, khi thấy tình cảnh khó khăn, thì rửa tay và chối bỏ trách nhiệm và để mặc cho người khác kết án - hay chính tôi kết ác - không?
Tôi có giống đám đông, không biết gì cả nhưng lại đòi tha cho Barabba không? Với họ thì như nhau cả: nhưng hạ nhục Giêsu thì vui thú hơn.
Tôi có giống những tên lính đánh Chúa, đóng đinh Chúa, treo người lên, hạ nhục Người không?
Tôi có giống ông Simon thành Cyrene, đi làm về, mệt mỏi nhưng có ý tốt giúp Chúa vác cây Thập giá không?
Tôi có giống những người đi ngang qua thập giá và chế nhạo Giêsu không: Nào, cố lên! Xuống khỏi thập giá đi rồi chúng tôi sẽ tin vào ông!" Họ chế nhạo Giêsu.
Tôi có giống những người phụ nữ can đảm, và giống như mẹ của Giêsu, đứng ở đó, hứng chịu bao đau khổ trong thinh lặng?
Tôi có giống Giuse, người môn đệ ẩn danh, đã mang xác Giêsu với trọng tình yêu và đem đi chôn cất không?
Tôi có giống những nhà lãnh đạo vào ngày hôm sau đi đến chỗ Philatô và nói: ""Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: "Sau ba ngày, Ta sẽ chỗi dậy". Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắm đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết chỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp bợm cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước". Họ đóng cuộc sống mình lại, đóng ngôi mộ lại để bảo vệ học thuyết của mình để cuộc sống của mình không đi ra ngoài.
Con tim của tôi đang ở đâu? Tôi thấy mình giống ai trong những người này? Những câu hỏi này sẽ theo chúng ta trong suốt tuần này.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (17/4/2011) - Hướng mình lên cao
Anh chị em thân mến,
Các bạn trẻ thân mến,
Thật cảm động khi cứ vào Chúa Nhật Lễ Lá hằng năm, chúng ta lại cùng với Đức Giêsu tiến về Đền Thánh, và đồng hành cùng Người trong chuyến hành trình lên núi. Trong ngày này, khắp mặt đất và xuyên qua mọi thế hệ, những người trẻ và tất cả mọi người thuộc mọi lứa tuổi đều cất cao lời tung hô Người: “Hoan hô con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa!”
Thế nhưng thật sự chúng ta làm gì khi chúng ta tháp mình vào một cuộc rước kiệu như thế này, khi chúng ta hòa mình vào nhóm những người cùng Đức Giêsu tiến lên Giêrusalem và tung hô Người như là vua của Israel? Có điều gì hơn là một đám rước lễ hội chăng, hơn là một phong tục đẹp đẽ chăng? Cuộc rước ấy có liên quan gì đến thực tế cuộc sống mỗi chúng ta và thế giới của chúng ta?
Để tìm thấy câu trả lời, trước hết chúng ta hãy phân biệt giữa điều Đức Giêsu muốn làm và điều thực tế Ngài đã làm. Sau lời tuyên tín của Phêrô tại vùng Cesare Philiphê, phía cực bắc của Đất Thánh, Đức Giêsu khởi hành như một khách hành hương hướng về Đền Thánh Giêrusalem để dự lễ Vượt Qua. Đó là chuyến hành trình tiến về Đền Thờ của Thành Thánh, hướng về nơi mà toàn dân Israel được đảm bảo bởi sự hiện diện gần gũi cách đặc biệt của Thiên Chúa với dân Người. Đó là chuyến hành trình hướng đến đại lễ Vượt Qua, tưởng nhớ cuộc giải phóng ra khỏi đất Ai-cập và là dấu hiệu cho niềm hy vọng về một cuộc giải phóng chung cục. Đức Giêsu biết rằng một lễ Vượt Qua mới đang đợi mình, và Ngài sẽ đảm nhận vị trí của Con Chiên Vượt Qua tinh tuyền, hiến dâng chính mình trên Thập Giá. Ngài biết rằng trong việc trao ban mầu nhiệm Bánh và Rượu, Ngài sẽ trao ban chính mình mãi mãi cho những kẻ thuộc về Ngài, và mở ra cho họ cánh cửa hướng đến một con đường giải phóng mới, để hướng đến sự kết hiệp với Thiên Chúa hằng sống. Đó là hành trình hướng đến sự cao vời của Thập Giá, hướng đến giây phút của một tình yêu trao ban chính mình. Đích đến cuối cùng trong cuộc hành hương của Ngài là sự cao cả của chính Thiên Chúa. Đấy là chiều cao mà Ngài muốn nâng toàn bộ loài người lên.
Do đó, cuộc rước kiệu của chúng ta hôm nay phải là biểu tượng của một điều gì đó sâu xa hơn, là biểu tượng của việc chúng ta cùng bước đi với Đức Giêsu trong cuộc hành hương: trong nẻo đường vươn mình lên cao, hướng đến Thiên Chúa hằng sống. Đây là hành trình mà Đức Giêsu mời gọi chúng ta.
Thế nhưng làm sao chúng ta có thể đặt chân trên chuyến hành trình vươn cao này? Hành trình ấy chẳng phải vượt quá sự yếu hèn của chúng ta sao? Đúng vậy, hành trình ấy vượt xa mọi khả năng hữu hạn của chính chúng ta. Tự muôn đời, và cả cho đến ngày nay, con người đã được đổ đầy bởi khát vọng “trở nên như Thiên Chúa”, khát vọng vươn mình đến sự cao vời của Thiên Chúa. Nói cho cùng, tất cả những phát minh của trí thông minh nhân loại đều nhắm đến việc sở hữu một đôi cánh nhằm có thể nâng mình lên đến tầm cao của Hiện Hữu Tuyệt Đối, để trở nên độc lập và hoàn toàn tự do như chính Thiên Chúa là Đấng Tự Do. Đã có rất nhiều thứ được con người hiện thực hóa. Chúng ta có thể bay được. Từ đầu bên này đến đầu bên kia của thế giới, chúng ta có thể nhìn thấy nhau, nghe thấy nhau và nói chuyện với nhau. Thế nhưng vẫn còn mạnh mẽ sức nặng ghì kéo chúng ta xuống những điều thấp hèn. Cùng với sự phát triển những khả năng của chúng ta, không chỉ có những điều tốt lành. Cả những khả năng xấu cũng phát triển, và chúng như những cơn bão tố đầy đe dọa thổi qua dòng lịch sử của loài người. Ngoài ra, cũng còn đó những giới hạn và yếu hèn của chúng ta: hãy nghĩ đến những tai họa đã xảy ra trong những tháng vừa qua, và vẫn đang còn tiếp tục tấn công vào con người.
Các Giáo Phụ đã diễn tả rằng con người nằm ở điểm giao tranh giữa hai trường lực tương tác. Trước hết là sức nặng ghì kéo con người xuống những điều thấp hèn, hướng về cái tôi ích kỷ, hướng đến những điều giả dối và những điều xấu; trường lực này dìm chúng ta xuống thấp và đẩy chúng ta lìa xa sự cao cả của Thiên Chúa. Mặt khác, có sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa: việc được Thiên Chúa yêu thương và sự đáp trả bằng tình yêu của chúng ta thu hút chúng ta hướng mình lên cao. Con người luôn thấy mình ở giữa sức hút hai chiều này, và tất cả phụ thuộc vào việc xa tránh trường lực kéo chúng ta về sự xấu để trở nên tự do và buông mình hoàn toàn cho sự cuốn hút từ sức mạnh của Thiên Chúa, là sức mạnh làm cho chúng ta trở nên đích thực là mình, nâng chúng ta lên và trao ban cho chúng ta tự do đích thật.
Sau phần Phụng Vụ Lời Chúa, ở khởi đầu của Phụng Vụ Thánh Thể, Giáo Hội mời gọi chúng ta: “Sursum Corda” – “Hãy nâng tâm hồn lên”, hay chính xác là “Hãy nâng con tim lên”. Theo ngôn ngữ Kinh Thánh, con tim là trung tâm của con người, là nơi hội tụ của trí tuệ, ý chí, tình cảm, thân xác và linh hồn. Tại trung tâm này, tinh thần trở nên thân xác và thân xác trở nên tinh thần. Nơi đây ý chí, tình cảm, trí tuệ hội nhất với nhau trong việc nhận biết Thiên Chúa và trong tình yêu dành cho Người. Con tim này cần phải được nâng lên. Thế nhưng, như chúng ta đã thấy, chúng ta quá đỗi yếu đuối để có thể nâng con tim của mình lên đến tầm cao của Thiên Chúa. Chúng ta không thể tự mình làm điều ấy. Chính sự kiêu ngạo tự nâng mình lên sẽ dìm chúng ta xuống thấp và đẩy chúng ta lìa xa Thiên Chúa. Chúng ta cần được Thiên Chúa nâng lên, và điều này chính Đức Kitô đã khởi đầu trên Thập Giá. Ngài đã hạ mình xuống tận cùng điểm thấp hèn của loài người, để nhờ đó lôi kéo mọi người đến với Ngài và đến với Thiên Chúa hằng sống. Ngài đã khiêm nhường tự hạ, như lời của bài đọc hai mà chúng ta vừa nghe. Chỉ như thế sự kiêu ngạo của chúng ta mới bị đánh bại: sự khiêm nhường của Thiên Chúa là dạng thức tột cùng của tình yêu của Người, và chính tình yêu khiêm hạ này cuốn hút chúng ta lên cao.
Bài Thánh Vịnh 24 mà chúng ta hát trong cuộc rước hôm nay, được Giáo Hội xem như “bài ca tiến lên” chỉ ra những yếu tố cụ thể thuộc về cuộc hành trình vươn lên cao của chúng ta, thiếu vắng những điều này chúng ta sẽ không thể nào nâng mình lên được. Đó là: tay sạch, lòng thanh, từ khước những điều gian dối và tìm kiến Thánh Nhan Thiên Chúa. Tất cả những thành tựu khoa học kỹ thuật lớn lao của chúng ta chỉ có thể được giải phóng và đóng góp cho sự phát triển của nhân loại khi chúng ta có thái độ này: khi chúng ta có được đôi tay thanh sạch, con tim tinh tuyền, khi chúng ta tìm kiếm chân lý và tìm kiếm chính thiên Chúa, khi chúng ta để cho mình được đụng chạm và can thiệp bởi tình yêu Thiên Chúa. Tất cả những điều này chỉ có thể hữu hiệu khi chúng ta biết nhìn nhận với sự khiêm nhường rằng chúng ta cần phải được cuốn hút hướng lên cao, khi chúng ta từ bỏ ngạo khí muốn tự biến mình trở thành chính Thiên Chúa. Chúng ta cần đến Thiên Chúa. Chính Người sẽ cuốn chúng ta hướng lên cao. Khi chúng ta cậy dựa vào bàn tay của Người, Người sẽ chỉ cho chúng ta một hướng đi đúng đắn và sẽ ban cho chúng ta một sức mạnh nội tâm để nâng chúng ta lên. Chúng ta cần đến sự khiêm hạ của niềm tin, là sự khiêm hạ tìm kiếm Thánh Nhan của Thiên Chúa và tín thác vào chân lý nơi tình yêu của Người.
Thánh Augustinô, khi tìm kiếm một con đường đúng đắn, đã có một thời gian dài đi theo lối suy tư của những triết gia này. Nhưng rốt cục, thánh nhân đã phải thừa nhận rằng câu trả lời của họ không đủ, rằng những phương pháp của họ không thể thực sự chạm đến Thiên Chúa. Augustinô đã nói với những người đại diện của trường phái triết học này: Các người hãy nhìn nhận rằng sức mạnh của con người và tất cả những sự thanh tẩy mà con người tự làm cho mình là không đủ để có thể đưa họ đến với sự cao cả của thiên Chúa, đến với chính Thiên Chúa. Thánh nhân còn thêm rằng ngài sẽ tuyệt vọng về chính mình và về cuộc hiện hữu của con người nếu không tìm thấy Đấng có thể thực hiện hoàn tất những điều mà con người không thể thực hiện, Đấng nâng chúng ta lên với tầm cao của Thiên Chúa, bất chấp tình trạng khốn cùng của chúng ta. Đấng ấy chính là Đức Giêsu Kitô, phát xuất từ Thiên Chúa, hạ mình xuống đến với chúng ta, và bằng tình yêu tự hiến trên thập giá đã cầm tay chúng ta và dẫn chúng ta bước đi trên hành trình vươn mình lên cao.
Chúng đang bước đi cùng Đức Chúa của chúng ta trong hành trình hướng lên cao. Chúng ta đang tìm lại con tim tinh tuyền và bàn tay thanh sạch, chúng ta tìm kiếm sự thật và tìm kiếm Thánh Nhan của Thiên Chúa. Chúng ta hãy bày tỏ với Thiên Chúa khao khát được trở nên công chính, và chúng ta hãy khẩn nguyện với Người:
Lạy Chúa, xin hãy cuốn hút chúng con hướng lên cao! Xin hãy làm cho chúng con được tinh tuyền! Xin hãy làm cho lời Thánh Vịnh mà chúng con hát trong cuộc rước hôm nay trở nên hiện thực nơi chúng con. Xin cho chúng con có thể thuộc về dòng dõi của những người tìm kiếm Chúa, những người tìm kiếm Thánh Nhanh Nhan của Đức Chúa nhà Giacop (Thánh Vịnh 24, 6).
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (16/3/2008) - Đền Thờ mới trong Đức Kitô
Anh chị em thân mến,
Tin mừng của Chúa nhật lễ Lá hằng năm đều thuật lại việc Đức Giêsu tiến vào Giêrusalem. Cùng với các môn đệ và một đám đông người hành hương ngày càng đông đảo, Người đi lên từ miền đồng bằng Galilê đến Thành Thánh. Các thánh sử đã kể lại cho chúng ta ba lần Đức Giêsu loan báo về cuộc Thương khó của Người, như những chặng trên hành trình tiến lên, đồng thời cũng nói đến cuộc tiến lên nội tâm mà Người đang thực hiện trong cuộc lữ hành này.
Đức Giêsu tiến về Đền thờ - nơi mà, như sách Đệ Nhị Luật nói, Thiên Chúa đã chọn để “đặt Danh Người ngự ở đó” (x. Đnl 12,11; 14,23). Thiên Chúa, Đấng tạo dựng trời đất, đã tự mặc khải Danh của Người, làm cho mình trở nên có thể được kêu cầu; hơn thế nữa, Người đã làm cho mình trở nên gần gũi, để con người có thể chạm đến. Không nơi nào có thể chứa đựng Người, nhưng chính vì thế, Người đã ban cho mình một nơi chốn và một Danh, để Người, là Thiên Chúa đích thực, có thể được tôn thờ cách cá vị ngay giữa chúng ta.
Chúng ta biết qua trình thuật Đức Giêsu lúc mười hai tuổi rằng Người yêu mến Đền thờ như nhà của Cha mình, như chính ngôi nhà thân thương của Người. Giờ đây, Người lại đến thăm Đền thờ ấy, nhưng hành trình của Người còn đi xa hơn: đích điểm cuối cùng của cuộc tiến lên này là thập giá.
Đó là cuộc đi lên được Thư gửi tín hữu Do Thái mô tả như hành trình tiến về lều không do tay con người dựng nên, nhưng do chính Thiên Chúa thiết lập, dẫn đến sự hiện diện của Thiên Chúa. Cuộc tiến lên cuối cùng để được chiêm ngắm Thiên Chúa phải đi qua thập giá. Đó là cuộc đi lên hướng tới “tình yêu đến cùng” (x. Ga 13,1), là núi thánh đích thực của Thiên Chúa, nơi gặp gỡ dứt khoát giữa Thiên Chúa và con người.
Trong cuộc tiến vào Giêrusalem, dân chúng đã tung hô Đức Giêsu như Con vua Đavít bằng những lời của các khách hành hương trong Thánh vịnh 118[117]: “Hoan hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Hoan hô trên các tầng trời!” (Mt 21,9).
Sau đó, Người tiến vào Đền thờ. Thế nhưng, tại nơi lẽ ra phải là không gian của cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, Người lại thấy những người buôn bán súc vật và những kẻ đổi tiền, chiếm chỗ cầu nguyện bằng các hoạt động mua bán của họ. Thực vậy, các con vật được bán là để dùng làm lễ tế trong Đền thờ; và vì không thể sử dụng những đồng tiền mang hình các hoàng đế Rôma, vốn trái nghịch với Thiên Chúa đích thực, nên người ta cần đổi sang những đồng tiền không mang hình ảnh mang tính ngẫu tượng. Tuy nhiên, tất cả những việc ấy có thể được thực hiện ở nơi khác.
Không gian đang bị chiếm dụng ấy, theo đúng mục đích của nó, phải là tiền đình dành cho dân ngoại. Bởi lẽ, Thiên Chúa của Ítraen chính là Thiên Chúa của muôn dân. Dù những người ngoại không trực tiếp tham dự vào Mặc khải, họ vẫn có thể hiệp lời cầu nguyện với Thiên Chúa duy nhất nơi tiền đình của đức tin. Thiên Chúa của Ítraen, Thiên Chúa của toàn thể nhân loại, luôn chờ đợi lời cầu nguyện, sự tìm kiếm và tiếng kêu khẩn của họ.
Thế nhưng, ở đây, việc buôn bán lại chiếm ưu thế, những giao dịch được hợp pháp hóa bởi nhà chức trách, vốn cũng được hưởng lợi từ lợi nhuận của các thương nhân. Những người buôn bán hành động đúng theo luật đang hiện hành, nhưng chính luật ấy lại bị lệch lạc. Thư gửi tín hữu Côlôxê nói: “Lòng tham là một thứ ngẫu tượng” (Cl 3,5). Chính Đức Giêsu đã đối diện với thứ ngẫu tượng ấy. Trước thực trạng đó, Người trích lời ngôn sứ Isaia: “Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện” (Mt 21,13; x. Is 56,7), và lời ngôn sứ Giêrêmia: “Còn các ngươi, các ngươi lại biến nơi này thành sào huyệt của bọn cướp” (Mt 21,13; x. Gr 7,11).
Đứng trước một trật tự bị hiểu sai, Đức Giêsu đã bảo vệ trật tự đích thực được mặc khải trong Lề luật và các Ngôn sứ bằng hành động mang tính ngôn sứ của mình.
Ngày hôm nay, đối với chúng ta là những Kitô hữu, tất cả những điều này mời gọi chúng ta suy nghĩ. Đức tin của chúng ta có đủ tinh tuyền và rộng mở hay không, để từ đó những “dân ngoại” của thời hôm nay, những người đang tìm kiếm và mang trong mình bao thao thức, có thể nhận ra ánh sáng của Thiên Chúa duy nhất, có thể bước vào “tiền đình của đức tin” để hiệp lời cầu nguyện với chúng ta? Đồng thời, qua chính những câu hỏi của họ, họ có thể dần trở thành những người thờ phượng? Ý thức rằng lòng tham là một hình thức ngẫu tượng có thực sự thấm vào tâm hồn chúng ta và vào cách chúng ta sống không? Phải chăng, trong nhiều cách khác nhau, chúng ta cũng để cho các ngẫu tượng len lỏi vào chính đời sống đức tin của mình? Chúng ta có sẵn sàng để cho Chúa không ngừng thanh luyện chúng ta, để Người loại bỏ khỏi chúng ta và khỏi Giáo hội mọi điều trái nghịch với Người không?
Tuy nhiên, việc thanh tẩy Đền thờ không chỉ là một hành động chống lại những lạm dụng. Một thời đại mới trong lịch sử đã được báo trước. Điều Đức Giêsu đã nói với người phụ nữ Samari về việc thờ phượng đích thực nay bắt đầu được thực hiện: “Giờ đã đến, và chính là lúc này đây, khi những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật; vì Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng như thế” (Ga 4,23).
Thời kỳ dâng của lễ súc vật cho Thiên Chúa đã qua. Những hy lễ ấy chỉ là một hình thức thay thế, một cử chỉ hướng về cách thờ phượng đích thực. Thư gửi tín hữu Do Thái, khi nói về đời sống và công trình của Đức Giêsu, đã trích Thánh vịnh 40[39]: “Hy lễ và lễ vật, Chúa không ưa thích, nhưng Chúa đã chuẩn bị cho con một thân thể” (Dt 10,5).
Thân thể Đức Kitô, chính Đức Kitô, bước vào để thay thế các hy lễ đẫm máu và lễ vật. Chỉ có “tình yêu đến cùng”, chỉ có tình yêu trọn vẹn dâng hiến cho Thiên Chúa vì con người, mới là việc thờ phượng đích thực, là hy lễ đích thực. Thờ phượng trong Thần Khí và sự thật có nghĩa là tôn thờ trong sự hiệp thông với Đấng là Sự Thật; tôn thờ trong sự hiệp thông với Thân Thể của Người, nơi Chúa Thánh Thần quy tụ chúng ta nên một.
Các tác giả Tin mừng thuật lại rằng trong phiên tòa xét xử Đức Giêsu, người ta đã đưa ra những chứng gian, quả quyết rằng Người đã nói: “Tôi có thể phá hủy Đền thờ của Thiên Chúa và xây lại trong ba ngày” (Mt 26,61). Khi Đức Kitô bị treo trên thập giá, có kẻ đã nhạo báng Người và nhắc lại chính những lời ấy: “Mi là kẻ phá hủy Đền thờ và xây lại trong ba ngày, hãy cứu lấy mình đi!” (Mt 27,40).
Bản văn chính xác của những lời này, như chính Đức Giêsu đã nói, được Thánh Gioan truyền lại trong trình thuật về việc thanh tẩy Đền thờ. Đáp lại lời yêu cầu một dấu lạ để minh chứng cho hành động của mình, Chúa phán: “Các ông cứ phá hủy Đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ dựng lại” (Ga 2,18tt). Thánh Gioan thêm rằng, sau khi nhớ lại biến cố Phục sinh, các môn đệ nhận ra rằng Người nói về Đền thờ là thân thể của Người (x. Ga 2,21tt).
Không phải chính Đức Giêsu phá hủy Đền thờ; nhưng Đền thờ đã bị đẩy đến chỗ hủy diệt bởi thái độ của những kẻ biến nơi ấy, từ chỗ là nơi gặp gỡ giữa muôn dân với Thiên Chúa, thành “hang trộm cướp”, thành nơi phục vụ cho những toan tính của họ. Nhưng như vẫn thường xảy ra kể từ sau sa ngã của Ađam, sự thất bại của con người lại trở thành cơ hội để chúng ta gắn bó hơn nữa với tình yêu Thiên Chúa.
Thời của Đền thờ xây bằng đá, thời của các hy lễ động vật nay đã qua đi: việc Chúa xua đuổi những người buôn bán không chỉ nhằm ngăn chặn một lạm dụng, mà còn chỉ về cách thức hành động mới của Thiên Chúa. Một Đền thờ mới được thiết lập: chính Đức Giêsu Kitô, nơi Người tình yêu Thiên Chúa xuống trên nhân loại. Bằng chính cuộc đời mình, Người là Đền thờ mới và sống động.
Đấng đã đi qua thập giá và đã được phục sinh chính là không gian sống động của Thần Khí và sự sống, nơi hình thức thờ phượng đích thực được thực hiện. Như thế, việc thanh tẩy Đền Thờ – như là cao điểm của cuộc tiến vào Giêrusalem cách long trọng của Đức Giêsu – đồng thời vừa là dấu chỉ báo trước sự sụp đổ của công trình cũ, vừa là lời hứa về Đền thờ mới; lời hứa về vương quốc của sự hòa giải và tình yêu, được thiết lập trong sự hiệp thông với Đức Kitô, vượt trên mọi ranh giới.
Thánh Matthêu, tác giả Tin mừng mà chúng ta đang lắng nghe trong năm nay, ở phần cuối trình thuật về Chúa nhật lễ Lá, sau biến cố thanh tẩy Đền thờ, còn nhắc đến hai sự kiện nhỏ khác, nhưng một lần nữa lại mang tính ngôn sứ và làm sáng tỏ ý định đích thực của Đức Giêsu cho chúng ta. Ngay sau lời Người nói về nhà cầu nguyện cho muôn dân, tác giả Tin mừng tiếp tục: “Có những kẻ mù lòa và què quặt đến với Người trong Đền thờ, và Người đã chữa lành họ.” Ngoài ra, Thánh Matthêu còn kể rằng các trẻ em trong Đền thờ đã tung hô lời chúc tụng mà dân hành hương đã reo lên nơi cửa thành: “Hoan hô Con vua Đavít!” (Mt 21,14tt).
Đức Giêsu đối lại việc buôn bán và những toan tính tiền bạc bằng lòng nhân hậu chữa lành của Người. Đó mới chính là sự thanh tẩy đích thực của Đền thờ. Người không đến như kẻ phá hủy; Người không đến với thanh gươm của một nhà cách mạng. Người đến với ân ban chữa lành. Người dành trọn bản thân cho những ai, vì bệnh tật, bị đẩy ra bên lề cuộc sống và xã hội.
Đức Giêsu mặc khải Thiên Chúa như Đấng yêu thương, và quyền năng của Ngài chính là quyền năng của tình yêu. Như thế, Người cho chúng ta thấy điều luôn thuộc về việc thờ phượng Thiên Chúa cách đích thực: đó là sự hồi phục, phục vụ và lòng nhân hậu có sức chữa lành.
Rồi đến các trẻ em, những người tôn vinh Đức Giêsu như Con vua Đavít và tung hô Người. Chính Đức Giêsu đã nói với các môn đệ rằng, để được vào Nước Thiên Chúa, điều thiết yếu là phải trở nên như trẻ nhỏ. Chính Người, Đấng ôm trọn toàn thể vũ trụ, đã trở nên bé nhỏ để đến trợ giúp chúng ta, để dẫn đưa chúng ta đến với Thiên Chúa.
Để nhận biết Thiên Chúa, chúng ta phải từ bỏ lòng kiêu căng vốn làm chúng ta mù lòa, khiến chúng ta xa cách Ngài như thể Ngài là đối thủ của mình. Để gặp gỡ Thiên Chúa, cần phải biết nhìn bằng trái tim. Chúng ta phải học nhìn bằng trái tim của trẻ nhỏ, một trái tim trẻ trung, không bị trói buộc bởi thành kiến, cũng không bị che mờ bởi những lợi ích riêng. Chính nơi những người bé mọn, có trái tim tự do và rộng mở như thế, nhận ra Đức Giêsu, Đấng mà Hội thánh nhận ra hình ảnh của mình, hình ảnh của các tín hữu mọi thời.
Anh chị em thân mến, trong giây phút này, chúng ta hãy cùng hòa mình vào đoàn rước của những người trẻ năm xưa, một đoàn rước trải dài xuyên suốt lịch sử. Cùng với người trẻ trên khắp thế giới, chúng ta hãy tiến ra đón gặp Đức Giêsu. Hãy để Người dẫn dắt chúng ta đến với Thiên Chúa, để học nơi chính Thiên Chúa cách sống làm người cho đúng nghĩa.
Chúng ta hãy cùng với Người tạ ơn Thiên Chúa, bởi vì nơi Đức Giêsu, Con vua Đavít, Ngài đã ban cho chúng ta một không gian của bình an và hòa giải, bao trùm toàn thế giới trong Thánh Thể. Chúng ta hãy cầu xin Người, để chính chúng ta cũng trở nên những sứ giả của bình an, những người thờ phượng trong thần khí và sự thật trong Người và khởi đi từ Người, hầu Nước của Ngài được lớn lên trong chúng ta và chung quanh chúng ta. Amen.
Nguồn tin: hdgmvietnam.org
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn