Đức Lêô XIV, lễ vọng Phục sinh năm A (04/4/2026) - Nhiều tảng đá hận thù cần được lăn đi
“Mầu nhiệm thánh của đêm nay […] phá tan hận thù, uốn cong sự cứng cỏi của những kẻ quyền thế, mang lại hoà thuận và bình an” (Bài công bố Tin mừng Phục sinh).
Như thế, anh chị em thân mến, khi bắt đầu buổi cử hành này, thầy phó tế đã cất lời ca tụng ánh sáng của Đức Kitô Phục Sinh, được biểu tượng nơi cây nến Phục sinh. Từ một cây nến duy nhất ấy, tất cả chúng ta đã thắp sáng những ngọn nến của mình, và mỗi người, cầm trên tay ánh sáng nhỏ được lấy từ cùng một nguồn lửa, đã làm sáng lên cả ngôi đại thánh đường này. Đó là dấu chỉ của ánh sáng Phục sinh, ánh sáng hiệp nhất chúng ta trong Hội thánh để trở thành ánh sáng cho thế gian. Đáp lại lời công bố của thầy phó tế, chúng ta thưa “amen”, nói lên quyết tâm đón nhận sứ mạng ấy, và lát nữa đây, chúng ta sẽ lặp lại lời tuyên xưng “có” của chúng ta khi canh tân Lời hứa Rửa tội.
Anh chị em rất thân mến, đây là đêm Canh thức tràn đầy ánh sáng, cổ xưa nhất trong truyền thống Kitô giáo, được gọi là “mẹ của mọi đêm canh thức”. Trong đó, chúng ta sống lại ký ức về chiến thắng của Chúa sự sống trên sự chết và âm phủ. Chúng ta cử hành điều này sau khi trải qua, trong những ngày vừa qua, như trong một đại cử hành duy nhất, các mầu nhiệm cuộc Thương khó của Đức Kitô, Đấng là Thiên Chúa làm “người đau khổ” (Is 53,3), “bị người đời khinh khi ruồng rẫy” (ibid.), chịu khổ hình và bị đóng đinh, vì chúng ta.
Còn tình yêu nào lớn hơn? Còn sự nhưng không nào trọn vẹn hơn? Đấng Phục Sinh chính là Đấng Tạo Hóa của vũ trụ, Đấng đã cho chúng ta hiện hữu từ hư vô ở thuở ban đầu của lịch sử, thì cũng chính trên thập giá, để tỏ tình yêu vô biên cho chúng ta, Người đã ban tặng sự sống cho chúng ta.
Bài đọc thứ nhất đã nhắc lại điều đó với trình thuật về nguồn gốc mọi sự. Lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất (x. St 1,1), làm cho hỗn mang trở thành vũ trụ, khiến bừa bộn nên hài hòa, và trao cho chúng ta, được dựng nên theo hình ảnh và giống với Người, nhiệm vụ làm người quản lý. Và ngay cả khi, bởi tội lỗi, con người đã không đáp lại kế hoạch ấy, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi họ, nhưng đã mạc khải một cách còn đáng kinh ngạc hơn nữa khuôn mặt đầy lòng thương xót của Người trong sự tha thứ.
“Mầu nhiệm thánh của đêm nay”, vì thế, bén rễ ngay cả nơi thất bại đầu tiên của nhân loại, và trải dài qua hàng thế kỷ như một hành trình hòa giải và ân sủng.
Trên hành trình ấy, phụng vụ đã trình bày cho chúng ta một số chặng đường qua các bản văn Kinh Thánh mà chúng ta vừa nghe. Phụng vụ nhắc lại cách Thiên Chúa đã ngăn tay ông Abraham, khi ông sẵn sàng hiến tế con mình là Isaác, để cho thấy Người không muốn sự chết của chúng ta, nhưng muốn chúng ta hiến dâng chính mình để trở thành, trong tay Người, những chi thể sống động của một dòng dõi được cứu độ (x. St 22,11-12.15-18). Cũng vậy, phụng vụ mời gọi chúng ta suy niệm về cách Chúa đã giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập, biến biển cả, nơi của sự chết và chướng ngại không thể vượt qua, thành cánh cửa mở ra một đời sống mới và tự do. Và cùng một sứ điệp ấy đã vang vọng trong lời các ngôn sứ, nơi chúng ta nghe thấy những lời ca tụng Chúa như vị phu quân mời gọi và quy tụ (x. Is 54,5-7), như nguồn suối giải khát, như nước làm trổ sinh (x. Is 55,1.10), như ánh sáng chỉ đường bình an (x. Br 3,14), như Thần Khí biến đổi và canh tân tâm hồn (Ed 36,26).
Trong tất cả những thời điểm ấy của lịch sử cứu độ, chúng ta đã thấy Thiên Chúa đáp lại sự cứng cỏi của tội lỗi, thứ chia rẽ và giết chết, bằng quyền năng của tình yêu, điều hiệp nhất và ban lại sự sống. Chúng ta đã cùng nhau tưởng nhớ những điều đó, xen kẽ với các Thánh vịnh và lời nguyện, để nhắc nhở rằng, nhờ cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, “được mai táng với Người trong sự chết […] chúng ta cũng được bước đi trong đời sống mới, […] đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6,4-11), được thánh hiến trong Bí tích Rửa tội cho tình yêu của Chúa Cha, hiệp nhất trong sự hiệp thông của các thánh, và nhờ ân sủng trở nên những viên đá sống động để xây dựng Nước của Người (x. 1Pr 2,4-5).
Trong ánh sáng ấy, chúng ta đọc lại trình thuật Phục Sinh mà chúng ta đã nghe trong Tin Mừng theo thánh Matthêu. Sáng sớm ngày Phục Sinh, các phụ nữ, vượt thắng đau khổ và sợ hãi, đã lên đường. Họ muốn đến mộ của Đức Giêsu. Họ nghĩ sẽ thấy ngôi mộ được niêm phong, với một tảng đá lớn chặn cửa và lính canh đứng gác. Đó chính là tội lỗi: một rào cản nặng nề đóng kín và tách chúng ta khỏi Thiên Chúa, tìm cách làm cho những lời hy vọng của Người chết đi trong chúng ta. Tuy nhiên, bà Maria Mađalêna và bà Maria khác đã không để mình bị đe dọa. Họ đã đến mộ, và nhờ đức tin và tình yêu của mình, họ trở thành những chứng nhân đầu tiên của sự Phục Sinh. Trong trận động đất và nơi thiên thần ngồi trên tảng đá đã lăn đi, họ đã thấy quyền năng của tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn mọi sức mạnh của sự dữ, có thể “xua tan hận thù” và “uốn cong sự cứng cỏi của những kẻ quyền thế”. Con người có thể giết chết thân xác, nhưng sự sống của Thiên Chúa tình yêu là sự sống đời đời, vượt trên sự chết và không một ngôi mộ nào có thể giam giữ. Như thế, Đấng chịu đóng đinh đã hiển trị từ thập giá, thiên thần đã ngồi trên tảng đá, và Đức Giêsu đã hiện ra với họ và nói: “Chào chị em!” (Mt 28,9).
Anh chị em thân mến, đó cũng là sứ điệp của chúng ta hôm nay, là cuộc gặp gỡ mà chúng ta muốn làm chứng, bằng lời nói của đức tin và bằng các việc làm của đức ái, khi hát lên bằng chính đời sống mình lời “Alleluia” mà chúng ta tuyên xưng bằng môi miệng (x. Thánh Augustinô, Bài giảng 256, 1). Như các phụ nữ đã chạy đi loan báo cho các anh em, chúng ta cũng muốn, đêm nay, từ Vương cung thánh đường này, lên đường để mang Tin Mừng đến cho mọi người rằng Đức Giêsu đã sống lại, và nhờ quyền năng của Người, khi sống lại với Người, chúng ta cũng có thể làm cho một thế giới mới được sinh ra, một thế giới của hòa bình và hiệp nhất, như “một đoàn dân vô số người và đồng thời […] một người duy nhất, bởi vì dù các Kitô hữu là nhiều, nhưng chỉ có một Đức Kitô” (Thánh Augustinô, Giải thích các Thánh vịnh, 127,3).
Các anh chị em hiện diện nơi đây, đến từ nhiều nơi trên thế giới, những người sắp lãnh nhận Bí tích Rửa tội, được thánh hiến cho sứ mạng này. Sau hành trình dài của thời kỳ dự tòng, hôm nay họ được tái sinh trong Đức Kitô để trở nên thụ tạo mới (x. 2Cr 5,17), là những chứng nhân của Tin Mừng. Cho họ, và cho tất cả chúng ta, chúng ta lặp lại điều Thánh Augustinô đã nói với các Kitô hữu thời của ngài: “Hãy loan báo Đức Kitô, hãy gieo vãi […], hãy rải khắp nơi điều anh em đã cưu mang trong lòng” (Bài giảng 116, 23-24).
Anh chị em thân mến, ngay trong thời đại chúng ta, cũng không thiếu những ngôi mộ cần được mở ra, và thường là những tảng đá nặng nề che phủ chúng và được canh giữ đến mức tưởng chừng không thể lay chuyển. Có những tảng đá đè nặng trên tâm hồn con người như sự mất niềm tin, sợ hãi, ích kỷ, oán hận; những tảng đá khác, là hệ quả của những điều nội tâm ấy, làm tan vỡ các mối liên kết giữa chúng ta, như chiến tranh, bất công, sự khép kín giữa các dân tộc và quốc gia. Đừng để mình bị tê liệt! Nhiều người nam và nữ, trong dòng lịch sử, với sự trợ giúp của Thiên Chúa, đã lăn những tảng đá ấy đi, có khi với rất nhiều khó khăn, đôi khi phải trả giá bằng chính mạng sống, nhưng đã mang lại những hoa trái tốt lành mà hôm nay chúng ta vẫn còn được hưởng. Họ không phải là những nhân vật xa vời, nhưng là những con người như chúng ta, những người, nhờ sức mạnh của ân sủng của Đấng Phục Sinh, trong đức ái và sự thật, đã can đảm nói, như Thánh Tông đồ Phêrô nói “những lời của Thiên Chúa” (1Pr 4,11), và hành động “bằng sức mạnh Thiên Chúa ban, để trong mọi sự Thiên Chúa được tôn vinh” (ibid.).
Chúng ta hãy để mình được đánh động bởi gương sáng của họ, và trong Đêm Thánh này, hãy làm cho quyết tâm của họ trở thành của chúng ta, để ở mọi nơi và mọi thời, những hồng ân Phục Sinh của sự hoà thuận và bình an được lớn lên và sinh hoa trái trên toàn thế giới.
Nguồn: vatican.va
Đức Phanxicô, lễ vọng Phục sinh năm A (08/4/2023) - Hồi nhớ và lên đường
Đêm sắp tàn và những ánh bình minh đầu tiên ló rạng, khi những người phụ nữ lên đường hướng về mộ Chúa Giêsu, họ tiến bước một cách bấp bênh, lạc lối, với trái tim bị xé nát bởi nỗi đau của cái chết đã cướp đi Đấng Yêu Dấu. Nhưng đến nơi, thấy mồ trống, họ đã quay lại, đổi hướng; họ rời khỏi mộ và chạy đi loan báo một hành trình mới cho các môn đệ: Chúa Giêsu đã sống lại và đang đợi các ông ở Galilê. Cuộc đời của những người phụ nữ này thực sự đã phục sinh, có nghĩa là một cuộc vượt qua: thực tế, họ đi từ con đường buồn bã tới ngôi mộ đến việc chạy đi loan báo cho các môn đệ trong niềm vui, để nói với họ không chỉ rằng Chúa đã sống lại, mà còn có một đích đến cần thực hiện ngay lập tức, Galilê. Cuộc hẹn với Đấng Phục Sinh ở phía trước, Đấng Phục Sinh dẫn đường tới đó. Sự tái sinh của các môn đệ, sự sống lại của tâm hồn họ trải qua từ Galilê. Chúng ta cũng bước vào cuộc hành trình của các môn đệ đi từ ngôi mộ đến Galilê.
Tin Mừng thuật lại rằng các phụ nữ “đi thăm mộ” (Mt 28:1). Họ nghĩ rằng Chúa Giê-su đang ở nơi chết chóc và rằng mọi sự đã chấm dứt mãi mãi. Đôi khi chúng ta cũng nghĩ rằng niềm vui gặp gỡ Chúa Giêsu đã thuộc về quá khứ, trong khi hiện tại chúng ta biết trên hết là những ngôi mộ bị niêm phong: những nỗi thất vọng, những cay đắng và ngờ vực của chúng ta, những nỗi niềm “không còn làm được gì nữa”, “mọi thứ sẽ không bao giờ thay đổi”, “tốt hơn hết là sống cho qua ngày” bởi vì “không có gì chắc chắn về ngày mai”. Chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta từng bị đau đớn dày xéo, bị đè nén bởi nỗi buồn, tủi nhục vì tội lỗi, cay đắng vì thất bại nào đó hay ám ảnh bởi ưu tư nào đó, đã nếm trải vị đắng của mệt mỏi và đã thấy niềm vui phai nhạt trong lòng.
Đôi khi chúng ta chỉ đơn giản là cảm thấy mệt mỏi khi tiếp tục với cuộc sống hàng ngày, mệt mỏi khi mạo hiểm bản thân trước bức tường cao su của một thế giới nơi quy luật của kẻ khôn khéo nhất và kẻ mạnh nhất dường như luôn thắng thế. Vào những lúc khác, chúng ta cảm thấy bất lực và nản lòng trước sức mạnh của sự dữ, những xung đột chia rẽ các mối quan hệ, logic của tính toán và sự thờ ơ dường như chi phối xã hội, căn bệnh tham nhũng, bất công tràn lan, các cơn gió băng giá của chiến tranh. Và, thêm nữa, có lẽ chúng ta đã thấy mình đối mặt với cái chết, bởi vì nó đã cướp đi sự hiện diện ngọt ngào của những người thân yêu của chúng ta hoặc vì nó đã chạm vào chúng ta trong bệnh tật hoặc tai họa, và chúng ta dễ dàng trở thành con mồi của sự vỡ mộng và dập tắt nguồn hy vọng của chúng ta. Do đó, trong những tình huống này hay những tình huống khác, con đường của chúng ta dừng lại trước những ngôi mộ và chúng ta bất động khóc lóc và hối tiếc, cô đơn và bất lực để lặp lại câu “tại sao” của mình.
Thay vào đó, các phụ nữ trong ngày Phục sinh không bị tê liệt trước ngôi mộ, nhưng Tin Mừng kể lại, “vội vã rời khỏi mộ, vừa sợ vừa mừng, họ chạy đi báo tin cho các môn đệ của Người” (c. 8). Họ mang đến tin tức sẽ thay đổi cuộc sống và lịch sử mãi mãi: Chúa Kitô đã sống lại! (xem câu 6). Đồng thời, họ giữ và truyền đi lời của Chúa, lời mời gọi của Người cho các môn đệ: hãy đi đến Galilê, vì ở đó họ sẽ được gặp Người (x. c. 7). Nhưng đi đến Ga-li-lê nghĩa là gì? Hai điều: một mặt, thoát ra khỏi sự đóng cửa của phòng tiệc ly để đi đến vùng dân ngoại (x. Mt 4:15), thoát ra khỏi nơi ẩn náu để mở lòng với sứ vụ, thoát khỏi sợ hãi để tiến về phía tương lai. Mặt khác, nó có nghĩa là trở về cội nguồn, bởi vì tất cả đã bắt đầu ở Galilê. Tại đó Chúa đã gặp và gọi các môn đệ lần đầu tiên. Vì thế, đi đến Galilê là trở về với ân sủng nguyên thủy, là để lấy lại ký ức làm tái sinh niềm hy vọng, “ký ức của tương lai” mà chúng ta đã được đánh dấu bởi Đấng Phục Sinh.
Vậy, sự Phục Sinh của Chúa có tác dụng gì? Nó thúc đẩy chúng ta tiến tới, thoát ra khỏi cảm giác thất bại, lăn tảng đá khỏi ngôi mộ mà chúng ta thường giam hãm niềm hy vọng của mình, để tin tưởng nhìn về tương lai, bởi vì Chúa Kitô đã sống lại và đã thay đổi hướng của câu chuyện; nhưng, để làm được điều này, sự Phục Sinh của Chúa đưa chúng ta trở lại quá khứ ân sủng, đưa chúng ta trở lại Galilê, nơi bắt đầu câu chuyện tình yêu của chúng ta với Chúa Giêsu, nghĩa là, nó đòi hỏi chúng ta sống lại khoảnh khắc đó, hoàn cảnh đó, kinh nghiệm đó, nơi chúng ta đã gặp Chúa, cảm nghiệm được tình yêu của Người và nhận được một cái nhìn mới và sáng ngời về chính chúng ta, về thực tại, về mầu nhiệm của cuộc sống. Để sống lại, để bắt đầu lại, để tiếp tục cuộc hành trình, chúng ta luôn cần phải trở về Galilê, nghĩa là không phải trở lại với một Chúa Giêsu lý tưởng, trừu tượng, mà là trở về với ký ức sống động, cụ thể và rung động của cuộc gặp gỡ đầu tiên với Người. Vâng, thưa anh chị em, phải nhớ rằng khi bước đi, chúng ta phải hồi nhớ; để có hy vọng, chúng ta phải nuôi dưỡng ký ức. Đây là lời mời gọi: hồi nhớ và lên đường! Nếu bạn tìm lại được tình yêu ban đầu, sự ngạc nhiên và niềm vui khi gặp Chúa, thì bạn sẽ tiến bước. Hồi nhớ và lên đường.
Hãy hồi nhớ Galilê của bạn và tiến về phía Galilê của bạn. Đó là “nơi” mà bạn đã gặp gỡ Chúa Giêsu cách cá vị, nơi mà đối với bạn, Người không còn là một nhân vật lịch sử như những người khác, nhưng đã trở thành con người của sự sống: không phải là một Thiên Chúa xa lạ, mà là một Thiên Chúa gần gũi, biết bạn hơn bất kỳ ai khác và yêu bạn hơn bất kỳ ai khác. Anh chị em, hãy nhớ về Galilê của anh chị em: về tiếng gọi của anh chị em, về Lời Chúa mà trong chính thời điểm đó đã nói với chính anh chị em; về kinh nghiệm mạnh mẽ đó trong Thần Khí, về niềm vui lớn lao nhất của sự tha thứ được cảm nhận sau lần Xưng tội đó, về khoảnh khắc cầu nguyện mãnh liệt và khó quên đó, về ánh sáng chiếu rọi bên trong và biến đổi cuộc đời bạn, về cuộc gặp gỡ đó, về cuộc hành hương đó… Mỗi chúng ta biết nơi phục sinh nội tâm của chính mình, nơi khởi đầu, nơi sáng lập, nơi đã thay đổi mọi thứ. Chúng ta không thể để nó lại chỗ quá khứ, nhưng Đấng Phục Sinh mời gọi chúng ta đến đó để mừng Phục Sinh. Hãy nhớ Galilê của bạn, nhớ đến nó, làm sống lại nó hôm nay. Quay trở lại cuộc gặp gỡ đầu tiên đó. Hãy tự hỏi xem điều đó đã xảy ra như thế nào và khi nào, hãy làm sống lại bối cảnh, thời gian và địa điểm đó, trải nghiệm lại những cảm xúc và cảm giác đó, hồi tưởng lại màu sắc và hương vị của nó. Vì chính khi quên đi tình yêu thuở ban đầu ấy, quên đi lần gặp gỡ đầu tiên ấy, là khi bạn để bụi bặm bắt đầu bám vào tim và nếm trải nỗi buồn và, giống như các môn đệ, mọi thứ dường như chẳng còn triển vọng, với một hy vọng bị niêm phong bằng đá tảng. Nhưng hôm nay, sức mạnh Phục sinh mời bạn hãy lăn đi những tảng đá thất vọng và ngờ vực. Chính Chúa, chuyên gia trong việc lật đổ các bia mộ của tội lỗi và sợ hãi, muốn soi sáng ký ức thánh thiện, ký ức đẹp đẽ nhất của bạn, làm cho cuộc gặp gỡ đầu tiên của bạn với Người trở về hiện tại. Hồi nhớ và lên đường: hãy trở lại với Người, trở lại với ân sủng Phục Sinh của Chúa trong bạn!
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy theo Chúa Giêsu đến Galilê, chúng ta hãy gặp gỡ Người và thờ lạy Người ở đó, nơi Người đang chờ đợi mỗi chúng ta. Chúng ta, sau khi đã khám phá ra Người vẫn sống, hãy làm sống lại vẻ đẹp của lúc chúng ta đã tuyên xưng Người là Chúa của cuộc đời chúng ta. Hãy trở lại Galilê, mỗi người trở lại Galilê của chính mình, Galilê của lần gặp gỡ đầu tiên, và sống lại đời sống mới!
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, lễ vọng Phục sinh năm A (11/4/2020) - Quyền hy vọng
Sau ngày Sabbath (Mt 28: 1), những người phụ nữ đã đi đến ngôi mộ. Đây là cách Tin Mừng của Đêm Vọng thánh thiêng này bắt đầu: với ngày Sa-bát. Trong Tam Nhật Thánh, chúng ta thường có xu hướng bỏ qua ngày này bởi ta đang háo hức chờ đợi bước chuyển từ mầu nhiệm Thánh Giá của ngày Thứ Sáu sang lời hoan ca Alleluia của Chúa Nhật Phục Sinh. Tuy nhiên, năm nay, chúng ta đang trải nghiệm, hơn bao giờ hết, sự im lặng lớn lao của Thứ Bảy Thánh. Chúng ta có thể tưởng tượng mình ở vị trí của những phụ nữ vào ngày đó. Giống như chúng ta bây giờ, trước mắt họ là một thảm cảnh đau thương, một bi kịch xảy ra quá bất ngờ. Họ đã nhìn thấy sự chết và nó đè nặng lên trái tim họ. Nỗi đau xen lẫn nỗi sợ hãi: liệu họ có chịu chung số phận với Thầy mình? Rồi sau đó là nỗi sợ về viễn tượng tương lai và tất cả những gì cần phải được xây dựng lại. Một ký ức đau đớn, một niềm hy vọng bị cắt cụt. Giống như chúng ta bây giờ, đối với họ, đó là giờ phút đen tối nhất.
Tuy nhiên, trong tình huống này, những người phụ nữ không cho phép mình bị tê liệt. Họ không chịu khuất phục trước sự ảm đạm của đau khổ và tiếc nuối; họ không tự thu mình lại, hay trốn chạy khỏi thực tại. Họ đang làm một việc rất đơn sơ nhưng lại phi thường: chuẩn bị các hương liệu ở nhà để xức xác Chúa Giê-su. Họ không ngừng yêu thương; từ trong đêm tối của cõi lòng, họ thắp lên một ngọn lửa thương xót. Mẹ Maria của chúng ta đã trải qua ngày Thứ Bảy đó. Đó là ngày xứng đáng dành để tôn vinh mẹ, trong tâm tình nguyện cầu và hy vọng. Mẹ đã đáp lại nỗi buồn bằng niềm tin vào Thiên Chúa. Những người phụ nữ này không thể ngờ được rằng, từ trong bóng tối của ngày Sa-bát đó, chính họ đang thực hiện những sự chuẩn bị cho “Bình minh của ngày thứ nhất trong tuần”, ngày sẽ thay đổi lịch sử. Như hạt giống bị chôn vùi trong lòng đất, Đức Giêsu chuẩn bị làm cho đời sống mới được nở hoa trong thế giới này; và những người phụ nữ đó, bằng lời cầu nguyện và tình yêu, đã giúp tạo nên đoá hoa hy vọng đó. Trong những ngày buồn thảm này, có biết bao người cũng đã và đang làm những điều mà những phụ nữ kia đã thực hiện, đó là gieo hạt mầm hy vọng, với những cử chỉ bé nhỏ của lòng quan tâm, của tình thường và lời cầu nguyện.
Rạng sáng, những người phụ nữ đi đến ngôi mộ. Thiên thần nói với họ: “Đừng sợ. Ngài không ở đây; vì Ngài đã sống lại”(câu 5-6). Họ nghe thấy những lời của sự sống ngay cả khi họ đang đứng trước một ngôi mộ… Và sau đó họ gặp Đức Giê-su, đấng ban tặng tất mọi niềm hy vọng, Đấng xác chuẩn thông điệp và nói: “Đừng sợ”(câu 10). Đừng sợ, đừng lui bước trước sợ hãi: Đây là thông điệp của hy vọng. Nó được gửi đến chúng ta hôm nay. Đây là những lời mà Thiên Chúa lặp lại với chúng ta ngay trong đêm nay.
Đêm nay, chúng ta được trao một quyền cơ bản mà không bao giờ bị lấy mất: quyền hy vọng. Đó là niềm hy vọng hy sống động và mới mẻ đến từ Thiên Chúa. Đó không phải là thứ lạc quan tếu; nó không phải là một cái vỗ nhẹ vào lưng hay một lời khích lệ trống rỗng. Đó là một món quà từ thiên đường, thứ mà chúng ta không thể tự mình kiếm được. Trong những tuần này, chúng ta đã lặp đi lặp lại rằng ‘tất cả sẽ ổn thôi’. Đó là những lời nói bén rễ từ nét đẹp nhân bản và thúc đẩy những câu khích lệ nổi lên từ cõi lòng chúng ta. Nhưng khi ngày tháng trôi qua và nỗi sợ hãi tăng lên, ngay cả niềm hy vọng táo bạo nhất cũng có thể tan biến. Niềm hy vọng của Đức Giê-su mang lại thì rất khác. Ngài gieo vào lòng chúng ta niềm tin rằng Thiên Chúa có thể biến mọi thứ trở nên tốt lành, vì chưng ngay cả từ ngôi mộ Ngài cũng đã mang lại sự sống.
Ngôi mộ là nơi không ai bước vào. Nhưng Chúa Giêsu trỗi dậy vì chúng ta; Ngài đã sống lại cho chúng ta, để mang lại sự sống từ nơi của sự chết, để khởi đầu một lịch sử mới ở chính nơi bị chèn bởi tảng đá. Đấng đã lăn hòn đá bịt kín lối vào ngôi mộ cũng có thể loại bỏ những viên đá trong trái tim chúng ta. Vì vậy, chúng ta đừng nhụt chí; chúng ta đừng đặt tảng đá chắn mất niềm hy vọng. Chúng ta có thể và phải hy vọng vì Thiên Chúa là Đấng thành tín. Ngài không bỏ rơi chúng ta; Ngài đã viếng thăm ta và đã bước vào những cảnh huống đau thương, thống khổ và chết chóc của chúng ta. Ánh sáng của Ngài xua tan bóng tối của ngôi mộ; hôm nay Ngài muốn ánh sáng đó xuyên qua cả những góc tối nhất trong cuộc sống chúng ta. Thưa quý anh chị em, ngay cả khi chúng ta đã chôn vùi niềm hy vọng trong trái tim mình, chúng ta cũng đừng từ bỏ, vì Thiên Chúa vẫn luôn lớn hơn. Bóng tối và sự chết không có lời cuối cùng. Hãy mạnh mẽ lên, vì với Chúa không có gì là hư mất!
Lòng can đảm. Đây là một cụm từ thường được Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng. Chỉ một lần những người khác dùng cụm từ này để khích một người đang cần giúp đỡ: Hãy can đảm đứng dậy, Ngài đang gọi anh đó! (Mc 10:49). Chính Người, Đấng Phục Sinh, đã nâng chúng ta lên trong những lúc cần thiết. Trên hành trình cuộc sống, nếu ta cảm thấy yếu đuối, mỏng giòn, hoặc sa ngã, xin đừng sợ, Thiên Chúa sẽ đưa tay giúp đỡ và nói với ta: “Dũng cảm lên!”. Tựa như Don Abbondio (trong tiểu thuyết của Manzoni), chúng ta cũng có thể nói “can đảm chẳng phải là điều gì bạn có thể tự trao cho mình”(I Promessi Sposi, XXV). Đúng, ta không thể tặng nó cho chính mình, nhưng ta có thể nhận nó như một món quà. Tất cả những gì ta phải làm là mở lòng cầu nguyện và nhẹ nhàng lăn đi tảng đá chặn lối vào trái tim của ta để ánh sáng của Chúa Giê-su có thể rọi vào. Ta chỉ cần kêu cầu Ngài: “lạy Chúa Giêsu, hãy đến với con giữa nỗi sợ hãi này, và nói với con rằng: Hãy can đảm!” Có Ngài, ôi lạy Chúa, chúng con sẽ chịu thử thách nhưng không bị lung lay. Và, dù cho bất cứ nỗi buồn nào, chúng con sẽ được củng cố trong hy vọng, vì có Ngài, thập giá cũng dẫn đến sự phục sinh, bởi Ngài ở cùng chúng con trong màn đêm u tối; Ngài chính là sự vững vàng giữa những điều không chắc chắn của chúng con; Ngài là lời nói phát ra trong cơn thinh lặng của chúng con; và không gì có thể lấy đi tình yêu Ngài dành cho chúng con.
Đây là sứ điệp Phục Sinh, sứ điệp của hy vọng. Sứ điệp này chứa một phần nữa, đó là sứ mạng được sai đi. Đức Giê-se bảo các phụ nữ: “Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê”(Mt 28:10). Thiên thần đã báo trước: “Người đi Ga-li-lê trước các ông”(Câu 7). Chúa đi trước chúng ta. Thật đáng khích lệ khi biết rằng Ngài đi trước chúng ta trong cuộc sống và trong cái chết; Ngài đến Galilê trước chúng ta. Với Đức Giê-su và các môn đệ, nơi này gợi nhớ tới cuộc sống hàng ngày, tới gia đình và công việc. Chúa Giêsu muốn chúng ta mang lại hy vọng ở đó, cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Đối với các môn đệ, Galilê cũng là nơi đáng nhớ, vì đó là nơi đầu tiên họ được kêu gọi. Trở về Galilê có nghĩa là nhớ rằng chúng ta đã được Thiên Chúa yêu thương và kêu gọi. Chúng ta cần tiếp tục cuộc hành trình, nhắc nhở bản thân rằng chúng ta được sinh ra và tái sinh nhờ một lời mời gọi được trao tặng nhưng không cho chúng ta vì tình yêu. Đây luôn là điểm mà chúng ta luôn có thể làm mới lại, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng và thử thách.
Nhưng còn hơn thế nữa. Galilê là khu vực xa nhất tính từ chỗ họ đang ở, tức từ Jerusalem. Và không chỉ về mặt địa lý. Galilê cũng là nơi cách xa sự thánh thiêng của Thành Thánh nhất. Đó là khu vực của những người thuộc các tôn giáo khác nhau sinh sống: đó là “Galilee của Dân Ngoại” (Mt 4:15). Chúa Giêsu sai họ đến đó và yêu cầu họ bắt đầu lại từ đó. Điều này nói gì với chúng ta? Nó nói rằng thông điệp hy vọng không nên bị giới hạn vào những chốn thánh thiêng của riêng chúng ta, mà cần được mang đến cho mọi người. Bởi vì tất cả mọi người đang cần sự trấn an, và nếu chúng ta, những người đã chạm được vào “Lời của sự sống”(1Ga 1: 1), không trao ban sự trấn an đó thì ai sẽ làm thay? Đẹp biết bao khi trở thành những Kitô hữu mang đến sự an ủi, trở thành người mang vác gánh nặng của người khác, và thành người khích lệ: đó là những sứ giả của sự sống trong thời điểm chết chóc! Ước gì chúng ta có thể mang lời ca sự sống đến mọi thứ ‘Galilee’, mọi khu vực của gia đình nhân loại mà tất cả chúng ta thuộc về và là một phần của chúng ta, vì tất cả chúng ta đều là anh chị em. Chúng ta hãy làm cho những kêu gào của sự chết phải im lặng; cho mọi thứ chiến tranh phải dừng lại! Ước gì chúng ta có thể ngừng sản xuất và buôn bán vũ khí, vì chúng ta cần lương thực chứ không phải súng ống! Hãy kết thúc việc phá thai và giết hại người vô tội. Ước gì trái tim của những người dư dả có đủ sự cởi mở để trao ban các nhu cầu thiết yếu vào những đôi tay trống trơn của người nghèo.
Sau hết, những phụ nữ đó đã níu giữ chân Chúa Giê-su (Mt 28: 9). Đó là đôi chân đã đi rất xa để gặp gỡ chúng ta: đến tận mức đi vào và trỗi dậy từ ngôi mộ. Những phụ nữ ôm lấy đôi chân đã giẫm đạp cái chết và đã mở ra con đường hy vọng. Hôm nay, như những người lữ hành tìm kiếm hy vọng, chúng con muốn bám vào Ngài, lạy Đức Giê-su Phục Sinh! Chúng con quay lưng với cái chết và mở rộng trái tim cho Ngài, vì chính Ngài là Sự Sống.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, lễ vọng Phục sinh năm A (15/4/2017) - Nhịp tim của Đấng Phục Sinh
“Sau ngày Sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Maria, đã đến viếng mộ” (Mt 28,1). Chúng ta có thể hình dung ra những bước chân… đó là bước chân mà nó tiêu biểu cho người đi đến nghĩa địa: một bước chân mệt mỏi trước sự luống cuống, bước đi yếu ớt của kẻ không tin rằng, tất cả sẽ kết thúc theo cách này… Chúng ta có thể hình dung ra những khuôn mặt nhợt nhạt và đẫm nước mắt của họ… Và những câu hỏi: Tình Yêu mà chết thì nó sẽ ra sao?
Ngược hẳn lại với các môn đệ, họ ở đó – giống như họ đã từng đồng hành với những hơi thở cuối cùng của Thầy trên Thập Giá, và rồi đồng hành với việc an táng Ngài do Giu-se thành Arimathea thực hiện: hai người phụ nữ có khả năng không chạy trốn nhưng kiên vững; họ có khả năng chấp nhận cuộc sống như nó là, và chịu đựng hương vị cay đắng của sự bất công. Và giờ đây, họ ở đó, trước ngôi mộ, dưới những đau khổ, và không còn khả năng cam chịu cũng như không còn khả năng chấp nhận rằng, rồi tất cả cũng sẽ đều phải kết thúc.
Và khi chúng ta cố gắng hình dung một chút, thì rồi chúng ta sẽ có thể thấy được trong khuôn mặt của những người phụ nữ ấy khuôn mặt của rất nhiều người mẹ và người bà, thấy được khuôn mặt của những em nhỏ và của những người trẻ, mà họ đang phải chịu đựng những gánh nặng và những nỗi khổ đau của rất nhiều những bất công phi nhân. Chúng ta thấy, những khuôn mặt của tất cả những con người đang cảm thấy đau khổ vì những nỗi khốn cùng, vì sự bóc lột và vì nạn buôn người trong xã hội, phản chiếu thế nào trong những người phụ nữ ấy. Trong họ, chúng ta cũng thấy được những khuôn mặt của những con người đang phải trải qua sự khinh khi vì họ bị kỳ thị, không quê hương xứ sở, không nhà cửa và không có gia đình; những khuôn mặt của những con người đang phải cô đơn và bị bỏ mặc, vì họ cũng đang có đôi tay rất ư là nhăn nheo. Họ phản chiếu trong khuôn mặt của những phụ nữ và những người mẹ đang khóc vì thấy cuộc sống của con cái họ đang bị chôn vùi dưới gánh nặng của sự tham nhũng và hủ hóa như thế nào. Sự tham nhũng này cướp đi những quyền lợi của họ, và làm cho vô vàn những nỗ lực bị vỡ vụn dưới việc tìm kiếm cái TÔI hằng ngày, mà việc tìm kiếm cái TÔI ấy đang đóng đinh và chôn vùi niềm hy vọng của rất nhiều người, dưới một chế độ quan liêu hủ bại và vô dụng, mà chế độ quan liêu đó không cho phép thay đổi các vấn đề. Trong sự đau khổ của mình, họ mang theo khuôn mặt của tất cả những con người trong xã hội đang thấy nhân phẩm của mình bị đóng đinh.
Có rất nhiều khuôn mặt trong khuôn mặt của những người phụ nữ đấy, và có lẽ chúng ta cũng đang thấy được khuôn mặt của bạn và của tôi ở đó. Giống như họ, có thể chúng ta cảm thấy mình đang được thúc giục hãy lên đường để không cam chịu với thực tế rằng, tất cả đều phải kết thúc như thế. Đúng là chúng ta đang mang trong mình một lời hứa và một niềm tin tưởng vào sự tín trung của Thiên Chúa. Nhưng những khuôn mặt của chúng ta cũng nói về những vết thương, cũng nói về muôn vàn những điều bất tín – của chúng ta và của người khác -, chúng cũng nói về những cơn cám dỗ và những trận thua. Con tim của chúng ta biết rằng, mọi sự đều có thể khác đi, nhưng đồng thời chúng ta lại không nhận ra điều đó, nhưng lại có thói quen sống với những nấm mồ và với sự thất vọng. Thậm chí chúng ta còn đi xa hơn nữa để làm cho mình tin rằng, đó là quy luật cuộc sống, trong khi chúng ta tự làm cho mình bị tê liệt với những lời biện minh thoái thác, mà chúng không đem lại bất cứ điều chi khác ngoài việc dập tắt niềm hy vọng mà Thiên Chúa đã đặt vào đôi tay chúng ta. Những bước đi của chúng ta thường là như thế, chúng ta đi giống như những phụ nữ ấy – đó là một bước đi giữa niềm khát khao Thiên Chúa với sự thất vọng không niềm vui. Không chỉ vị Thầy đã chết – nhưng niềm hy vọng của chúng ta cũng đang chết với Ngài.
“Và kìa, đất rung chuyển dữ dội” (Mt 28,2). Bỗng dưng, các phụ nữ nhận được một cú hích mạnh mẽ, một cái gì đó giống như thể một ai đó làm cho mặt đất dưới chân các bà phải rung lên. Một ai đó tiếp tục đi đến với các bà và nói: Chị em đừng sợ!, nhưng lần này với sự bổ sung: Chúa đã sống lại như Ngài đã nói. Và đó là sứ điệp mà Đêm Thánh này trao cho chúng ta từ đời nọ tới đời kia: Chúng ta đừng sợ, anh chị em thân mến, Chúa đã sống lại như lời Ngài đã nói! Sự sống bị giày xéo, bị hủy hoại và bị tàn phá trên Thập Giá lại tái trỗi dậy, cũng như tái cử động (xc. R. Guardini, Der Herr, Würzburg 1951, S. 479). Nhịp tim của Đấng Phục Sinh tự giới thiệu với chúng ta như là ân sủng, là quà tặng và là đường chân trời. Nhịp tim của Đấng Phục Sinh được tặng ban cho chúng ta để chúng ta tiếp tục trao tặng nó đi, như được đòi hỏi từ chúng ta, mà về phía mình, với tư cách là sức mạnh biến đổi và là men của một nhân loại mới. Nhờ vào sự phục sinh của Ngài, Chúa Ki-tô đã không chỉ hất tung tảng đá, nhưng Ngài còn muốn làm nổ tung mọi rào cản mà chúng nhốt chúng ta lại trong những thái độ yếm thế vô bổ của chúng ta, cũng như trong thế giới quan đầy vụ lợi của chúng ta, mà những thái độ và thế giới quan đó sẽ dẫn chúng ta đi xa khỏi cuộc sống, cũng như nhốt chúng ta vào trong sự tìm kiếm những điều an toàn, và nhốt chúng ta vào trong những tham vọng vô độ của chính chúng ta, những tham vọng ấy có khả năng đùa cợt với phẩm giá của người khác.
Khi các thượng tế và những chức sắc tôn giáo đồng lõa với chính quyền Rô-ma tin rằng, có thể trù liệu tất cả; khi họ nghĩ rằng, lời cuối cùng đã được nói, và họ có quyền ấn định điều ấy, thì Thiên Chúa đã bất thần xuất hiện để thủ tiêu tất cả mọi tiêu chuẩn, và như thế, tạo điều kiện cho một cơ hội mới. Thiên Chúa đến với chúng ta nhiều lần để ấn định một thời đại mới, thời đại của Lòng Thương Xót, và củng cố thời đại ấy. Đó chính là lời hứa càng ngày càng trở nên chắc chắn, đó là sự gây ngỡ ngàng của Thiên Chúa đối với dân tín trung của Ngài: Hãy vui mừng, vì cuộc sống của bạn đang ấp ủ một hạt mầm phục sinh, một sự mời chào sự sống mà nó đang mong chờ được tái phát triển.
Đó chính là điều mà để công bố cho chúng ta, đêm nay đã thốt lên: nhịp tim của Đấng Phục Sinh – Chúa Ki-tô đang sống! Đó là điều đã biến đổi bước chân của bà Maria Magdala và bước chân của một bà khác cũng tên là Maria: Điều đó làm cho các bà vội vã lên đường và mau chóng đến cùng các môn đệ để công bố Tin Mừng (xc. Mt 28,8); điều đó mang các bà tới chỗ vội vã quay lại và thực hiện việc thay đổi cái nhìn; họ quay trở lại thành phố để gặp gỡ những người khác.
Giống như những người phụ nữ ấy, chúng ta cũng đã đến viếng ngôi mộ; và như thế, Cha mời gọi anh chị em, hãy đồng hành với các bà trong việc quay trở lại thành phố, hãy điều chỉnh những bước đi và những cách nhìn của mình. Chúng ta hãy đồng hành với các bà để công bố Tin Mừng, chúng ta hãy đi… đến tất cả mọi nơi mọi chỗ mà ở đó có vẻ như sự chết đang là giải pháp duy nhất, và nấm mộ đang có tiếng nói cuối cùng. Chúng ta hãy đi để loan báo Tin Mừng, để công bố và để chỉ cho mọi người thấy rằng, Chúa Ki-tô đang sống thực sự. Ngài đang sống và đang muốn sống lại trong rất nhiều những khuôn mặt đã chôn vùi mất niềm hy vọng, chôn vùi những giấc mơ và chôn vùi phẩm giá. Và nếu chúng ta không có khả năng trong việc để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt chúng ta trên con đường này, thì rồi chúng ta sẽ không còn là các Ki-tô hữu nữa.
Chúng ta hãy đi và hãy để cho mình được gây ngỡ ngàng bởi buổi sáng tinh sương, mà nó đã trở nên khác ấy; chúng ta hãy để cho mình được gây ngỡ ngàng bởi điều mới mẻ mà chỉ một mình Chúa Ki-tô mới có thể ban tặng. Chúng ta hãy để cho sự trìu mến và Tình Yêu của Ngài mang những bước chân của chúng ta vào trong sự chuyển động, hãy để cho nhịp tim của Ngài biến đổi nhịp tim yếu ớt của chúng ta!
Nguồn: daminhtamhiep.net (15.4.2017)
Đức Phanxicô, lễ vọng Phục sinh năm A (19/4/2014) - Trở về Galilêa
Phúc Âm về cuộc phục sinh của Chúa Giêsu Kitô được bắt đầu bằng hành trình của các phụ nữ đến mồ vào lúc rạng đông của ngày sau ngày Hưu Lễ. Họ đến mồ để tôn kính thân thể của Chúa, nhưng họ lại thấy nó đã được mở ra và trở nên trống không. Một vị thiên thần quyền uy mới nói với họ rằng: Đừng sợ! (Mt 28:5) và truyền cho họ hãy đi nói với môn đệ rằng Người đã sống lại từ trong kẻ chết, và Người thực sự đến Galilêa trước các vị (câu 7). Các phụ nữ vội vàng lên đường và trên đường đi thì đích thân Chúa Giêsu gặp gỡ họ mà bảo: Đừng sợ; hãy đi mà nói cho các môn đệ của Thầy đến Galilêa; ở đó họ sẽ gặp Thày” (câu 10).
Sau cái chết của Thày mình, các môn đệ đã bị phân tán; đức tin của các vị hoàn toàn bị rung chuyển, mọi sự dường như chẳng còn gì nữa, tất cả những gì các vị tin tưởng đều trở nên tan tành và những gì các vị hy vọng đều tiêu tan. Thế nhưng, bấy giờ tin tức của các phụ nữ, bất khả tín thay, lại được mang đến với các vị như một tia sáng trong tăm tối. Tin tức được loan truyền ấy là Chúa Giêsu đã sống lại như Người đã phán. Rồi còn lệnh Người truyền cho các vị phải đến Galilêa nữa; các phụ nữ nghe thấy điều này 2 lần, lần thứ nhất từ thiên thần và sau đó từ chính Chúa Giêsu: Hãy báo cho họ đến Galilêa; ở đó họ sẽ gặp Thày.
Galilêa là nơi đầu tiên các vị được kêu gọi, nơi mọi sự được bắt đầu! Hãy trở về lại đó, trở về nơi các vị được gọi từ ban đầu. Chúa Giêsu đã bước đi dọc theo các bờ hồ khi những tay đánh cá ấy đang thả lưới. Người đã gọi các vị và các vị đã bỏ hết mọi sự mà theo Người (xem mathêu 4:18-22).
Việc trở lại Galilêa nghĩa là ôn lại hết mọi sự theo chiều hướng thập giá và cuộc vinh thắng của thập giá. Là ôn lại hết mọi sự Chúa Giêsu giảng dạy, làm phép lạ, lập cộng đồng mới, những hứng thú cùng với việc bỏ hàng ngũ ra đi, thậm chí cả việc bội phản, để ôn lại hết mọi sự từ một tận cùng lại là một khởi điểm mới, từ tác động yêu thương cao cả này.
Đối với cả từng người chúng ta nữa, cũng có một Galilêa ở vào khởi điềm cho cuộc hành trình của chúng ta với Chúa Giêsu. Việc đi đến Galilêa mang một ý nghĩa đẹp đẽ nào đó, nghĩa là tái nhận thức phép rửa của chúng ta như là một ngọn suối sống động, kín múc lấy một nghị lực mới từ nguồn mạch đức tin của chúng ta và cảm nghiệm Kitô hữu của chúng ta. Việc trở về Galilêa trên hết có nghĩa là trờ về với thứ ánh sáng rạng ngời mà nhờ đó ân sủng của Thiên Chúa đã chạm đến tôi ngay từ đầu của cuộc hành trình này. Từ ánh sáng ấy tôi có thể thắp lên một ngọn lửa cho hôm nay đây cũng như cho hết mọi ngày sống, và mang lại sức nóng cùng ánh sáng cho anh chị em của tôi. Ngọn lửa ấy làm bừng lên niềm vui nhẹ nhàng, một niềm vuị không thể bị mất đi bởi sầu đau và buồn khổ, một niềm vui tốt lành và êm dịu.
Trong đời sống của hết mọi Kitô hữu, sau phép rửa cũng có một thứ Galiêa sống động hơn nữa, đó là cái cảm nghiệm của một cuộc hội ngộ riêng tư với Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã kêu gọi tôi theo Người và tham phần vào sứ vụ của Người. Bởi thế, việc trở về với Galilêa nghĩa là trân quí trong lòng mình cái ký ức sống động về ơn gọi ấy, khi Chúa Giêsu đi qua đời tôi, thương hại nhìn vào tôi và xin tôi hãy theo Người (biệt chú của người dịch: câu này hoàn toàn phản ảnh câu tâm niệm của ĐTC “vì thương được chọn” xuất phát từ cảm nghiệm của ngài vào năm ngài 17 tuổi trước khi ngài dấn thân đáp lại tiếng Chúa gọi và theo Chúa cho đến nay trong vai trò đại diện Người để dẫn dắt Giáo Hội hiện nay). Nó có nghĩa là làm sống lại ký ức về giây phút mà ánh mắt của Người chạm phải đôi mắt của tôi, lúc mà Người làm cho tôi cảm thấy rằng Người đã yêu thương tôi.
Hôm nay, đêm nay, mỗi người chúng ta có thể đặt vấn đề là: Galilêa của tôi là gì? Galilêa của tôi ở đâu vậy? Tôi có nhớ nó hay chăng? Hay là tôi đã quên mất nó rồi? Phải chăng tôi đã bị lầm đường lạc lối nên quyên mất nó rồi? Chúa ơi, xin giúp con: xin hãy bảo cho con biết Galilêa của con là gì; vì Chúa biết rằng con muốn trở về đó để gặp gỡ Chúa và để cho con được tình thương của Chúa ấp ủ.
Bài Phúc Âm của Lễ Phục Sinh rất là rõ ràng, ở chỗ chúng ta cần trở về đó, để thấy Chúa Giêsu phục sinh và để trở thành những nhân chứng cho việc phục sinh của Người. Không phải là vấn đề trở về đó theo thời gian; không phải là một thứ nhung nhớ. Mà là cuộc trở về với tình yêu ban đầu của chúng ta, để nhận lấy ngọn lửa đã được Chúa Giêsu thắp lên trên thế giới này và mang ngọn lửa ấy cho tất cả mọi dân nước, cho đến tận cùng trái đất.
Một Galilêa của Dân Ngoại (Mathêu 4:15; Isaia 8:23)! Đó là chân trời của Chúa Phục Sinh, chân trời của Giáo Hội; với ước muốn thiết tha được gặp gỡ, nào chúng ta hãy lên đường!
Nguồn: tonggiaophanhanoi.org (20.4.2014)
Đức Bênêđictô XVI, lễ vọng Phục sinh năm A (23/4/2011) - Cuộc sáng tạo mới
Anh chị em thân mến,
Cử hành phụng vụ đêm Canh thức Vượt qua sử dụng hai dấu chỉ đầy ý nghĩa. Trước hết là lửa, lửa trở thành ánh sáng. Khi đoàn rước tiến qua nhà thờ còn chìm trong bóng tối của đêm đen, ánh sáng của Nến Phục sinh trở thành một làn sóng ánh sáng, và điều này nói với chúng ta về Đức Kitô như sao mai đích thực không bao giờ lặn - Chúa Phục Sinh, Đấng mà nơi Người ánh sáng đã chiến thắng bóng tối. Dấu chỉ thứ hai là nước. Một đàng, nước gợi nhớ lại nước Biển Đỏ, sự suy tàn và sự chết, mầu nhiệm Thập giá. Nhưng giờ đây nước được trình bày cho chúng ta như nước nguồn, một yếu tố ban sự sống giữa cảnh khô cằn. Như thế, nước trở thành hình ảnh của bí tích Thánh tẩy, nhờ đó chúng ta được thông phần vào sự Chết và sự Phục sinh của Đức Giêsu Kitô.
Tuy nhiên, những dấu chỉ vĩ đại của công trình tạo dựng này, ánh sáng và nước, không phải là những yếu tố duy nhất cấu thành phụng vụ đêm Canh thức Vượt qua. Một đặc điểm cốt yếu khác là cuộc gặp gỡ phong phú với những lời của Kinh thánh mà phụng vụ này mang lại. Trước cuộc canh tân phụng vụ, có mười hai bài đọc từ Cựu ước và hai bài đọc từ Tân ước. Các bài đọc từ Tân ước vẫn được giữ lại. Số bài đọc từ Cựu ước được ấn định là bảy, nhưng tùy theo hoàn cảnh địa phương, có thể giảm xuống còn ba. Giáo hội muốn trao cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về toàn bộ tiến trình của lịch sử cứu độ, khởi đi từ công trình tạo dựng, qua việc tuyển chọn và giải phóng Israel cho đến chứng từ của các ngôn sứ, nhờ đó toàn bộ lịch sử này được hướng đến Đức Giêsu Kitô một cách rõ ràng hơn bao giờ hết. Trong truyền thống phụng vụ, tất cả các bài đọc này được gọi là các lời ngôn sứ. Ngay cả khi chúng không trực tiếp báo trước những biến cố tương lai, chúng vẫn mang tính ngôn sứ, chúng cho chúng ta thấy nền tảng nội tại và định hướng của lịch sử. Chúng làm cho công trình tạo dựng và lịch sử trở nên sáng tỏ đối với những gì là thiết yếu. Theo cách này, chúng cầm lấy tay chúng ta và dẫn chúng ta đến với Đức Kitô; chúng chỉ cho chúng ta Ánh Sáng đích thực.
Trong Đêm Canh thức Vượt qua, cuộc hành trình theo những nẻo đường của Kinh thánh bắt đầu với trình thuật tạo dựng. Đó là cách phụng vụ nói với chúng ta rằng chính câu chuyện tạo dựng tự nó là một lời ngôn sứ. Đây không phải là thông tin về những tiến trình bên ngoài mà qua đó vũ trụ và chính con người đã được tạo thành. Các Giáo phụ của Giáo hội đã nhận thức rõ về điều này. Các ngài không giải thích trình thuật ấy như một bản tường thuật về tiến trình khởi nguyên của vạn vật, nhưng như một chỉ dẫn hướng về điều thiết yếu, hướng về khởi đầu và cùng đích và sự hiện hữu đích thực của chúng ta. Giờ đây, người ta có thể hỏi: liệu việc nói về công trình tạo dựng trong đêm Canh thức Vượt qua có thực sự quan trọng không? Chúng ta không thể bắt đầu với những biến cố trong đó Thiên Chúa kêu gọi con người, quy tụ cho mình một dân và kiến tạo lịch sử của Ngài với con người trên mặt đất sao? Câu trả lời là: không. Lược bỏ công trình tạo dựng là hiểu sai chính lịch sử của Thiên Chúa với con người, là làm giảm bớt giá trị của lịch sử ấy, là đánh mất trật tự cao cả đích thực của nó. Dòng chảy của lịch sử do Thiên Chúa thiết lập chảy ngược về tận nguồn cội, trở về với cuộc tạo dựng. Lời tuyên xưng đức tin của chúng ta bắt đầu bằng những lời: “Chúng tôi tin kính một Thiên Chúa, là Chúa Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất”. Nếu chúng ta bỏ đi phần mở đầu của kinh Tin kính, toàn bộ lịch sử cứu độ sẽ trở nên quá giới hạn và quá nhỏ bé. Giáo hội không phải là một thứ hiệp hội chỉ quan tâm đến những nhu cầu tôn giáo của con người nhưng lại bị giới hạn trong mục tiêu ấy. Không, Giáo hội đưa con người đến gặp gỡ Thiên Chúa và như thế đến với nguồn cội của vạn vật. Vì vậy, chúng ta quy hướng về Thiên Chúa như Đấng Tạo Hóa, và như thế chúng ta có trách nhiệm đối với công trình tạo dựng. Trách nhiệm của chúng ta mở rộng đến toàn thể tạo thành, bởi vì mọi sự đều phát xuất từ Đấng Tạo Hóa. Chỉ vì Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự mà Người mới có thể ban sự sống cho chúng ta và hướng dẫn cuộc đời chúng ta. Sự sống trong đức tin của Giáo hội không chỉ bao gồm một tập hợp những cảm xúc, những tâm tình, hay có lẽ cả những nghĩa vụ luân lý. Đức tin bao trùm toàn thể con người, từ nguồn gốc của họ cho đến vận mệnh vĩnh cửu của mình. Chỉ vì công trình tạo dựng thuộc về Thiên Chúa nên chúng ta mới có thể hoàn toàn phó thác mình trong tay Người. Và chỉ vì Người là Đấng Tạo Hóa nên Người mới có thể ban cho chúng ta sự sống đời đời. Niềm vui trước công trình tạo dựng, tâm tình tạ ơn vì công trình tạo dựng, và trách nhiệm đối với công trình ấy, tất cả đều gắn bó với nhau.
Sứ điệp trung tâm của trình thuật tạo dựng còn có thể được định nghĩa cách chính xác hơn nữa. Ngay trong những lời mở đầu Tin mừng của mình, Thánh Gioan đã tóm kết ý nghĩa thiết yếu của trình thuật ấy trong một tuyên bố duy nhất: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.” Thật vậy, trình thuật tạo dựng mà chúng ta vừa nghe trước đó được đặc trưng bởi cụm từ lặp đi lặp lại: “Và Thiên Chúa phán…”. Thế gian là sản phẩm của Ngôi Lời, của Logos, như Thánh Gioan diễn tả, khi sử dụng một thuật ngữ then chốt của ngôn ngữ Hy Lạp. “Logos” có nghĩa là “lý trí”, “ý nghĩa”, “lời”. Đó không phải là lý trí theo nghĩa đơn thuần, nhưng là Lý Trí sáng tạo, Đấng nói và thông truyền chính mình. Chính Lý Trí vừa hiện hữu vừa tạo nên ý nghĩa. Vì thế, trình thuật tạo dựng nói với chúng ta rằng thế giới là sản phẩm của Lý Trí sáng tạo. Như thế, trình thuật ấy cho chúng ta thấy rằng, thay vì sự thiếu vắng lý trí và tự do ở nguồn cội của muôn vật, thì chính Lý Trí sáng tạo, tình yêu và tự do mới là nguồn gốc của mọi sự. Ở đây, chúng ta đối diện với chọn lựa căn bản và tối hậu trong cuộc tranh luận giữa đức tin và sự vô tín: phải chăng sự phi lý, sự thiếu tự do và sự ngẫu nhiên thuần túy là nguồn gốc của mọi thứ, hay chính lý trí, tự do và tình yêu mới là nền tảng của hữu thể? Quyền ưu tiên thuộc về điều phi lý hay thuộc về lý trí? Chung quy, mọi sự đều quy về điểm này. Là những người tin, chúng ta trả lời, cùng với trình thuật tạo dựng và cùng với Thánh Gioan, rằng: lúc khởi đầu là lý trí. Lúc khởi đầu là tự do. Vì thế, thật tốt đẹp khi được là một con người. Không phải là trong một vũ trụ đang giãn nở, ở một giai đoạn muộn màng, tại một góc rất nhỏ của vũ trụ, đã ngẫu nhiên tiến hóa một loài sinh vật có khả năng lý luận và cố gắng tìm kiếm tính hợp lý trong công trình tạo dựng, hay đem tính hợp lý vào trong đó. Nếu con người chỉ đơn thuần là một sản phẩm ngẫu nhiên của tiến hóa tại một nơi nào đó ở bên lề vũ trụ, thì cuộc sống của họ sẽ không có ý nghĩa, hoặc thậm chí chỉ là một trò ngẫu nhiên của tự nhiên. Nhưng không, Lý Trí hiện diện ngay từ khởi đầu: Lý Trí sáng tạo, Lý Trí thần linh. Và bởi vì đó là Lý Trí, nên cũng đã tạo dựng nên tự do; và bởi vì tự do có thể bị lạm dụng, nên cũng tồn tại những thế lực gây tổn hại cho công trình tạo dựng. Vì thế, có thể nói, một đường đen đậm đã được vạch ngang qua cấu trúc của vũ trụ và qua chính bản tính con người. Nhưng bất chấp sự mâu thuẫn này, công trình tạo dựng tự nó vẫn tốt đẹp, sự sống vẫn tốt đẹp, bởi vì lúc khởi đầu là Lý Trí thiện hảo, là tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Do đó, thế giới có thể được cứu độ. Vì thế, chúng ta có thể và phải đứng về phía lý trí, tự do và tình yêu - đứng về phía Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta đến nỗi đã chịu đau khổ vì chúng ta, để từ cái chết của Người có thể phát sinh một sự sống mới, vĩnh cửu và được chữa lành.
Trình thuật tạo dựng trong Cựu ước mà chúng ta vừa nghe rõ ràng cho thấy trật tự ấy của thực tại. Nhưng trình thuật ấy còn dẫn chúng ta tiến thêm một bước nữa. Trình thuật đã cấu trúc tiến trình tạo dựng trong khuôn khổ một tuần lễ, hướng đến ngày sabát, nơi công trình tạo dựng được hoàn thành. Đối với Israel, ngày sabát là ngày mà mọi người đều được tham dự vào sự nghỉ ngơi của Thiên Chúa; trong ngày ấy, con người và súc vật, chủ và tôi tớ, người lớn và kẻ bé mọn được hiệp nhất trong sự tự do của Thiên Chúa. Như thế, ngày sabát là một biểu hiện của Giao ước giữa Thiên Chúa với con người và với toàn thể tạo thành. Theo cách đó, sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người không xuất hiện như một điều gì thêm vào, một điều được bổ sung về sau cho một thế giới vốn đã được tạo dựng trọn vẹn. Giao ước, tức là sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người, đã được xây dựng ngay ở tầng sâu thẳm nhất của công trình tạo dựng. Đúng vậy, Giao ước chính là nền tảng bên trong của công trình tạo dựng, cũng như công trình tạo dựng là giả định bên ngoài của Giao ước. Thiên Chúa đã dựng nên thế giới để có một không gian, nơi Người có thể thông ban tình yêu của Người, và từ đó có thể nhận lại lời đáp trả của tình yêu. Theo cái nhìn của Thiên Chúa, trái tim của con người biết đáp lại Người còn lớn lao và quan trọng hơn toàn thể vũ trụ vật chất bao la, cho dù chính vũ trụ ấy cho phép chúng ta thoáng thấy phần nào sự cao cả của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, lễ Phục sinh và kinh nghiệm Vượt qua của các Kitô hữu đòi buộc chúng ta phải tiến thêm một bước nữa. Ngày sabát là ngày thứ bảy trong tuần. Sau sáu ngày, trong đó con người theo một nghĩa nào đó được tham dự vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa, ngày sabát là ngày nghỉ ngơi. Thế nhưng, trong Giáo hội sơ khai đã xảy ra một điều hoàn toàn chưa từng có: vị trí của ngày Sabát, tức ngày thứ bảy, đã được thay thế bởi ngày thứ nhất. Với tư cách là ngày của cộng đoàn phụng vụ quy tụ, đó là ngày gặp gỡ Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô, Đấng, với tư cách là Chúa Phục sinh, đã gặp các môn đệ của Người vào ngày thứ nhất, tức Chúa nhật, sau khi các ông tìm thấy ngôi mộ trống. Như thế, cấu trúc của tuần lễ đã bị đảo ngược. Nó không còn hướng về ngày thứ bảy như thời gian để tham dự vào sự nghỉ ngơi của Thiên Chúa nữa. Trái lại, nó khởi đi từ ngày thứ nhất như ngày gặp gỡ Chúa Phục sinh. Cuộc gặp gỡ này được tái diễn trong mỗi lần cử hành Thánh Thể, khi Chúa một lần nữa hiện diện giữa các môn đệ của Người và ban chính mình cho họ; có thể nói, Người để cho họ được chạm đến, và cùng ngồi vào bàn với họ. Sự thay đổi này thật hết sức phi thường, nếu xét rằng ngày sabát, ngày thứ bảy được xem là ngày gặp gỡ Thiên Chúa, lại có nguồn gốc sâu xa trong Cựu ước. Nếu chúng ta cũng lưu ý rằng sự chuyển động từ ngày lao động đến ngày nghỉ ngơi tương ứng với nhịp điệu tự nhiên như thế nào, thì tính chất quyết liệt của sự thay đổi này lại càng nổi bật hơn. Sự biến chuyển mang tính cách mạng này, xảy ra ngay từ buổi đầu lịch sử của Giáo hội, chỉ có thể được giải thích bởi sự kiện là ngày ấy đã xảy ra một điều hoàn toàn mới mẻ. Ngày thứ nhất trong tuần chính là ngày thứ ba sau cái chết của Đức Giêsu. Đó là ngày Người tỏ mình cho các môn đệ như là Chúa Phục sinh. Thật vậy, cuộc gặp gỡ ấy mang một điều gì đó làm đảo lộn mọi sự. Thế giới đã thay đổi. Con người đã chết ấy nay đang sống với một sự sống không còn bị đe dọa bởi cái chết nào nữa. Một hình thức sự sống mới đã được khai mở, một chiều kích mới của công trình tạo dựng. Theo trình thuật sách Sáng thế, ngày thứ nhất là ngày công trình tạo dựng bắt đầu. Giờ đây, ngày ấy đã trở thành ngày tạo dựng theo một cách thức mới, nó đã trở thành ngày của cuộc tạo dựng mới. Chúng ta cử hành ngày thứ nhất. Và khi làm như thế, chúng ta cử hành Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và công trình tạo dựng của Người. Đúng vậy, chúng ta tin kính một Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất. Và chúng ta cử hành Thiên Chúa, Đấng đã làm người, đã chịu đau khổ, đã chết, đã được mai táng và đã sống lại. Chúng ta cử hành chiến thắng chung cuộc của Đấng Tạo Hóa và của công trình tạo dựng của Người. Chúng ta cử hành ngày này như nguồn gốc và mục tiêu của sự hiện hữu của chúng ta. Chúng ta cử hành ngày này, bởi giờ đây, nhờ Chúa Phục sinh, đã được xác quyết một cách dứt khoát rằng lý trí mạnh hơn sự phi lý, chân lý mạnh hơn gian dối, tình yêu mạnh hơn sự chết. Chúng ta cử hành ngày thứ nhất, bởi chúng ta biết rằng đường đen đã được vạch ngang qua công trình tạo dựng không tồn tại mãi mãi. Chúng ta cử hành ngày này, bởi chúng ta biết rằng những lời ở cuối trình thuật tạo dựng giờ đây đã được ứng nghiệm trọn vẹn: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra, và này, mọi sự đều rất tốt đẹp” (St 1,31). Amen.
Đức Bênêđictô XVI, lễ vọng Phục sinh năm A (22/3/2008) - Nước và ánh sáng
Anh chị em thân mến,
Trong diễn từ ly biệt, Chúa Giêsu đã loan báo cho các môn đệ về cái chết và phục sinh gần kề của Người bằng những lời đầy nhiệm mầu: “Thầy ra đi và sẽ đến cùng anh em” (Ga 14,28). Chết là một cuộc “ra đi”. Dù thân xác người đã khuất còn đó, chính người ấy đã đi vào cõi vô định, và chúng ta không thể theo được (x. Ga 13,36). Thế nhưng, nơi Chúa Giêsu, có một điều hoàn toàn mới mẻ, một điều làm thay đổi cả thế giới. Đối với cái chết của chúng ta, sự “ra đi” ấy là dứt khoát, không có trở lại. Nhưng trái lại, Chúa Giêsu lại nói về cái chết của Người: “Thầy ra đi và sẽ đến cùng anh em.” Chính khi ra đi, Người lại đến. Sự ra đi của Người mở ra một cách hiện diện hoàn toàn mới và cao cả hơn. Qua cái chết, Người đi vào trong tình yêu của Chúa Cha. Cái chết của Người là một hành vi yêu thương. Mà tình yêu thì bất tử. Vì thế, sự ra đi ấy được biến đổi thành một cuộc trở lại mới, thành một sự hiện diện sâu xa hơn và không bao giờ chấm dứt. Trong đời sống trần thế, Chúa Giêsu cũng như mỗi người chúng ta, bị ràng buộc bởi những điều kiện bên ngoài của thân xác: một nơi chốn xác định, một thời điểm xác định. Tính hữu hạn của thân xác đặt ra những giới hạn cho sự hiện hữu của chúng ta. Chúng ta không thể cùng lúc ở hai nơi. Thời gian của chúng ta cũng sẽ đi đến chấm dứt. Đồng thời, giữa cái “tôi” và cái “anh” luôn có một bức tường của sự khác biệt. Đúng là nhờ tình yêu, ta có thể phần nào đi vào cuộc sống của người khác. Tuy nhiên, vẫn còn đó ranh giới không thể vượt qua của sự khác biệt. Thế nhưng Chúa Giêsu, Đấng giờ đây đã được hoàn toàn biến đổi nhờ hành vi yêu thương, đã vượt trên mọi giới hạn ấy. Người không chỉ có thể đi qua những cánh cửa đóng kín bên ngoài, như Tin mừng thuật lại (x. Ga 20,19); nhưng còn có thể đi qua cánh cửa nội tâm ngăn cách cái “tôi” với cái “anh”, cánh cửa đóng kín giữa hôm qua và hôm nay, giữa quá khứ và tương lai. Trong ngày Người long trọng tiến vào Giêrusalem, khi có mấy người Hy Lạp xin được gặp Người, Chúa Giêsu đã đáp lại bằng dụ ngôn hạt lúa mì phải chết đi để sinh nhiều bông hạt. Qua đó, Người báo trước vận mệnh của chính mình: những lời ấy không chỉ dành cho một vài người Hy Lạp trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Qua thập giá, qua sự ra đi, qua cái chết của Người như hạt lúa mì, Người thực sự đến với muôn dân, để họ có thể thấy Người và chạm đến Người trong đức tin. Sự ra đi của Người được biến đổi thành cuộc trở về, thành sự hiện diện phổ quát của Đấng Phục sinh: hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Người cũng đến với chúng ta hôm nay, ôm lấy mọi thời gian và mọi nơi chốn. Giờ đây, Người còn có thể vượt qua bức tường khác biệt ngăn cách cái “tôi” với cái “anh”. Điều ấy đã xảy ra nơi Thánh Phaolô, khi ngài diễn tả tiến trình hoán cải và Phép Rửa của mình bằng những lời: “Không còn phải là tôi sống, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Nhờ cuộc ngự đến của Đấng Phục sinh, thánh Phaolô đã nhận được một căn tính mới. Cái “tôi” khép kín của ngài đã được mở ra. Giờ đây, ngài sống trong sự hiệp thông với Đức Kitô, trong cái “Tôi” lớn lao của cộng đoàn tín hữu, những người đã trở nên, như chính ngài nói, “là một trong Đức Kitô” (Gl 3,28).
Vì thế, anh chị em thân mến, rõ ràng là qua Bí tích Rửa tội, những lời nhiệm mầu Chúa Giêsu nói trong bữa Tiệc ly nay trở nên hiện thực nơi anh chị em. Trong Bí tích Rửa tội, Chúa bước vào đời sống anh chị em qua cánh cửa tâm hồn. Chúng ta không còn đứng bên cạnh nhau hay đối nghịch nhau nữa. Người đi xuyên qua mọi cánh cửa ấy. Đó chính là thực tại của Bí tích Rửa tội: Đấng Phục sinh đến; Người đến với anh chị em và kết hợp sự sống của Người với sự sống của anh chị em, lôi kéo anh chị em vào ngọn lửa rực cháy của tình yêu Người. Anh chị em trở nên một: một với Người, và vì thế, một với nhau. Thoạt nghe, điều này có vẻ trừu tượng và xa thực tế. Nhưng càng sống cuộc đời của người đã lãnh nhận Phép Rửa, anh chị em càng cảm nghiệm được chân lý của những lời ấy. Những người tin – những người đã chịu Phép Rửa – không bao giờ thực sự bị tách biệt khỏi nhau. Các châu lục, nền văn hóa, cơ cấu xã hội, thậm chí khoảng cách của lịch sử có thể phân chia chúng ta. Nhưng khi gặp nhau, chúng ta nhận ra nhau nhờ cùng một Chúa, cùng một đức tin, cùng một niềm hy vọng, cùng một tình yêu đã nhào nặn chúng ta. Khi ấy, chúng ta cảm nghiệm rằng nền tảng của đời sống chúng ta là như nhau. Chúng ta cảm nghiệm rằng nơi sâu thẳm nhất của mình, chúng ta được cắm rễ trong cùng một căn tính, nhờ đó mọi khác biệt bên ngoài, dù lớn đến đâu, cũng trở thành thứ yếu. Người tín hữu không bao giờ hoàn toàn xa cách nhau. Chúng ta hiệp thông với nhau nhờ căn tính sâu xa nhất của mình: Đức Kitô ở trong chúng ta. Vì thế, đức tin là sức mạnh của hòa bình và hòa giải cho thế giới: khoảng cách giữa con người được vượt qua; trong Chúa, chúng ta đã trở nên gần gũi (x. Ep 2,13).
Giáo hội diễn tả thực tại bên trong của Bí tích Rửa tội như hồng ân của một căn tính mới, qua những yếu tố hữu hình được dùng khi cử hành bí tích này. Yếu tố nền tảng là nước; tiếp đến là ánh sáng, được sử dụng cách đặc biệt trong phụng vụ đêm vọng Phục sinh. Chúng ta hãy dừng lại một chút trên hai yếu tố này. Trong thư gửi tín hữu Do Thái, có một câu nói về Đức Kitô tuy không trực tiếp nhắc đến nước, nhưng những ám chỉ Cựu ước lại rõ ràng hướng về mầu nhiệm nước và ý nghĩa biểu tượng của nó. Đây là lời nguyên văn: “Thiên Chúa là nguồn mạch bình an đã đưa Đức Giêsu, Chúa chúng ta, ra khỏi cái chết. Đức Giêsu là vị Mục tử cao cả của đoàn chiên, là Đấng đã đổ máu mình ra để thiết lập giao ước vĩnh cửu” (Dt 13,20). Ở đây vang vọng lời Ngôn sứ Isaia, nơi Môsê được mô tả như vị mục tử mà Thiên Chúa đưa lên từ nước, từ biển cả (x. Is 63,11). Và giờ đây Chúa Giêsu xuất hiện như vị Mục tử mới và vĩnh cửu, Đấng hoàn tất điều Môsê đã thực hiện: Người dẫn chúng ta ra khỏi dòng nước biển chết chóc, ra khỏi nước của tử thần. Trong bồi cảnh này, chúng ta có thể nhớ lại rằng mẹ của Môsê đã đặt ông vào một chiếc thúng nhỏ và thả trên dòng song Nin. Rời nhờ sự quan phòng của Thiên Chúa, ông được vớt lên khỏi nước, được đưa từ cõi chết bước vào sự sống. Và như thế, chính vì bản thân đã được cứu thoát khỏi dòng nước của sự chết, ông đã có thể dẫn đưa những người khác băng qua biển cả của tử thần. Chúa Giêsu đã vì chúng ta mà bước xuống tận những làn nước tối tăm của sự chết. Nhưng, như thư gửi tín hữu Do Thái cho chúng ta biết, nhờ chính máu của Người, Người đã được đưa trở về từ cõi chết: tình yêu của Người đã kết hiệp trọn vẹn với tình yêu của Chúa Cha, và chính vì thế, từ vực thẳm của tử thần, Người đã có thể trỗi dậy bước vào sự sống. Giờ đây, Người cũng nâng chúng ta lên khỏi dòng nước của sự chết để bước vào sự sống đích thực. Đó chính là điều diễn ra trong Bí tích Rửa tội: Người kéo chúng ta về phía Người, lôi cuốn chúng ta vào trong sự sống đích thật. Người dẫn chúng ta đi qua biển đời lịch sử vốn thường vẩn đục ngầu và đầy sóng gió, nơi chúng ta nhiều lần đứng trước nguy cơ bị nhấn chìm giữa bao hỗn độn và hiểm nguy. Có thể nói, trong Bí tích Rửa tội, Người nắm lấy tay chúng ta, dẫn chúng ta bước đi trên con đường xuyên qua Biển Đỏ của cuộc đời này, và đưa chúng ta vào sự sống vĩnh cửu, sự sống chân thật và ngay chính. Chúng ta hãy nắm chặt tay Người! Dù có bất cứ điều gì xảy đến, dù cuộc đời có đưa chúng ta đi đâu, xin đừng bao giờ buông tay Người! Hãy bước đi trên con đường dẫn đến sự sống.
Thứ đến là biểu tượng ánh sáng và lửa. Thánh Grêgôriô thành Tours (thế kỷ IV) thuật lại một thực hành đã được gìn giữ ở vài nơi suốt một thời gian dài: đó là việc thắp lửa mới cho cử hành đêm vọng Phục sinh trực tiếp từ ánh mặt trời nhờ một tinh thể pha lê. Có thể nói, ánh sáng và ngọn lửa được lãnh nhận lại từ trời cao, để từ đó mọi ánh sáng và mọi ngọn lửa của cả năm được thắp lên. Đó chính là biểu tượng của điều chúng ta đang cử hành trong đêm vọng Phục sinh này. Nhờ tình yêu tuyệt đối dành cho chúng ta, một tình yêu nơi trái tim Thiên Chúa và trái tim con người gặp gỡ nhau, Đức Giêsu Kitô thật sự đã mang ánh sáng từ trời xuống trần gian: ánh sáng của chân lý và ngọn lửa của tình yêu, có sức biến đổi chính hữu thể con người. Người đã mang ánh sáng đến, và giờ đây chúng ta biết Thiên Chúa là ai, Thiên Chúa như thế nào. Nhờ đó, chúng ta cũng hiểu được thân phận con người của mình: chúng ta là ai và chúng ta hiện hữu vì mục đích nào. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ngọn lửa của ánh sáng ấy được thắp lên nơi sâu thẳm trong chính tâm hồn chúng ta. Vì thế, trong Giáo hội sơ khai, Bí tích Rửa tội còn được gọi là Bí tích Soi sáng: Ánh sáng của Thiên Chúa đi vào trong chúng ta; và như thế, chính chúng ta trở nên con cái của ánh sáng. Chúng ta không được để cho ánh sáng chân lý, ánh sáng chỉ cho chúng ta con đường, bị dập tắt. Chúng ta phải bảo vệ ánh sáng ấy trước mọi thế lực đang tìm cách xóa bỏ nó, để đẩy chúng ta trở lại sự mù tối về Thiên Chúa và về chính bản thân mình. Đôi khi bóng tối có vẻ dễ chịu. Tôi có thể ẩn mình trong đó và sống cả đời trong một giấc ngủ mê. Thế nhưng, chúng ta không được mời gọi bước vào bóng tối, nhưng được mời gọi bước vào ánh sáng. Qua những lời tuyên hứa khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, mỗi năm chúng ta như được mời gọi thắp sáng lại ngọn lửa ấy. Vâng, tôi tin rằng thế giới và cuộc đời tôi không phải là sản phẩm của ngẫu nhiên, nhưng là hoa trái của Lý Trí vĩnh cửu và Tình Yêu vĩnh cửu, được Thiên Chúa toàn năng dựng nên. Vâng, tôi tin rằng nơi Đức Giêsu Kitô, trong mầu nhiệm Nhập thể, Thập giá và Phục sinh của Người, dung nhan Thiên Chúa đã được tỏ lộ; rằng nơi Người, Thiên Chúa đang hiện diện giữa chúng ta, chính Người liên kết chúng ta và dẫn đưa chúng ta về cùng đích của mình, là Tình Yêu vĩnh cửu. Vâng, tôi tin rằng Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta lời chân lý và soi sáng tâm hồn chúng ta; tôi tin rằng trong sự hiệp thông của Giáo hội, tất cả chúng ta trở nên một Thân Thể với Chúa, và như thế được gặp gỡ sự phục sinh và sự sống đời đời của Người. Chúa đã ban cho chúng ta ánh sáng của chân lý. Ánh sáng ấy cũng là lửa: một sức mạnh mãnh liệt phát xuất từ Thiên Chúa, một sức mạnh không hủy diệt, nhưng tìm cách biến đổi tâm hồn chúng ta, để chúng ta thực sự trở nên những con người thuộc về Thiên Chúa, và để bình an của Người có thể lan toả trong thế giới này.
Trong Giáo hội sơ khai, có một tập tục là sau bài giảng, vị giám mục hoặc linh mục sẽ lớn tiếng mời gọi cộng đoàn: “Conversi ad Dominum” – Hãy quay về cùng Chúa. Trước hết, điều này có nghĩa là họ quay về hướng Đông, hướng mặt trời mọc, dấu chỉ của Đức Kitô đang ngự đến, Đấng mà chúng ta đi đến gặp gỡ khi cử hành Thánh Thể. Ở những nơi không thể thực hiện điều ấy, ít là họ quay về phía ảnh tượng Đức Kitô nơi cung thánh, hoặc hướng về Thánh giá, để nội tâm được quy hướng về Chúa. Nhưng trên hết, đó là một biến cố nội tâm: sự hoán cải, sự quay trở về của linh hồn chúng ta với Đức Giêsu Kitô, và nhờ đó trở về với Thiên Chúa hằng sống, với ánh sáng đích thực. Đi liền với lời mời gọi ấy là lời tung hô khác dành cho cộng đoàn tín hữu, mà cho đến hôm nay vẫn được cất lên trước Kinh nguyện Thánh Thể: “Sursum corda” – “Hãy nâng tâm hồn lên.” Hãy nâng tâm hồn lên cao, vượt lên trên mọi bận tâm lệch lạc, những ước muốn, lo âu và sự hời hợt của chúng ta – “Hãy nâng tâm hồn lên, nâng chính con người nội tâm của anh chị em lên!” Trong cả hai lời mời gọi này, chúng ta như được triệu tập để làm mới lại Bí tích Rửa tội của mình: Conversi ad Dominum – chúng ta phải luôn quay lưng lại với những nẻo đường sai lầm mà chúng ta rất thường lạc bước trong tư tưởng và hành động. Chúng ta phải không ngừng quay trở lại với Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta phải luôn được hoán cải, nghĩa là đem tất cả cuộc đời mình mà quay về với Chúa. Và chúng ta cũng phải không ngừng giải thoát tâm hồn khỏi thế lực kéo nó xuống thấp, để nội tâm được nâng cao: trong chân lý và tình yêu. Trong giờ phút này, chúng ta hãy tạ ơn Chúa, vì nhờ quyền năng của Lời Người và các Mầu nhiệm thánh, Người chỉ cho chúng ta hướng đi đúng đắn và nâng tâm hồn chúng ta lên cao.
Chúng ta hãy cầu xin Người bằng những tâm tình sau: Vâng, lạy Chúa, xin làm cho chúng con trở thành những con người Phục sinh, những con người của ánh sáng, tràn đầy ngọn lửa tình yêu của Chúa. Amen.
Nguồn tin: hdgmvietnam.org
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn